Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 60/2025/HS-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Bùi Thị Hảo
  2. Bà Nguyễn Thị Phẩm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Phạm Khắc Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1.1. Bị cáo Trần Lương Đ, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 30 tháng 6 năm 1986; Nơi thường trú: Khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Lương S, sinh năm 1950, con bà Trần Thị H, sinh năm 1956. Bị cáo có vợ là Trần Thị Thu D, sinh năm 1990 và 02 người con; con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 09/3/2025; được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

1.2. Bị cáo Trần Văn K, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 28 tháng 02 năm 1982; Nơi thường trú: Khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Văn T, sinh năm 1960, con bà Lê Thị C, sinh năm 1960. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị U sinh năm 1987 và 03 người con; con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 09/3/2025; được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay bị cáo đang tại ngoại tại xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Đình T1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu I, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng tháng 7/2024, Trần Lương Đ, sinh năm 1986, trú tại: khu A, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ quen biết một người tên là T2 (Đ không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) tại Campuchia. Qua T2 giới thiệu và cho số điện thoại, Đ đã liên hệ và mua của người ở công ty cá độ bóng đá 01 tài khoản cá độ bóng đá có tên đăng nhập KQ970501, mật khẩu đăng nhập là: ZXCV1234, hạn mức tài khoản 10.000 điểm, với giá 60.000.000 đồng, tương ứng số tiền 6.000 đồng/ 01 điểm.

Do có mối quen biết xã hội với Trần Văn K, sinh năm 1982, trú tại: khu B xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Đình T1, sinh năm 1983, trú tại: khu I, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ, nên Đ chia tài khoản gốc của mình ra thêm 2 tài khoản M giao cho K và T1 để tham gia cá độ bóng đá. Trong đó tài khoản có ký hiệu KQ970501000, Đ giao cho Nguyễn Đình T1 với định mức là 4.000 điểm, mỗi điểm tương ứng số tiền 50.000 đồng, T1 đặt mật khẩu là “Sv12345”. Tài khoản có ký hiệu KQ97050100G, Đ giao cho Trần Văn K với định mức 3.000 điểm, mỗi điểm tương ứng số tiền 50.000 đồng, K đặt mật khẩu là “Khanghieul".

Sau khi được giao tài khoản các đối tượng đã cá độ bóng đá cụ thể như sau:

Vào ngày 28/11/2024, tại trận đấu bóng đá giữa 02 đội S1 và M1 tại giải bóng đá AFC CHAMPIONS LEAGUE TWO, Nguyễn Đình T1 đặt cược 60 điểm tương ứng với số tiền là 3.000.000 đồng, T1 trọn kèo tài 2.75 với tỉ lệ ăn 0.93. Nghĩa là khi kết thúc 90 phút thi đấu chính thức, nếu tổng số bàn thắng từ 4 bàn trở lên thì T1 sẽ thắng cược và ăn đủ 60 điểm đặt cược nhân với tỷ lệ cược, nếu tổng số bàn thắng của cả trận đấu là 3 bàn thì T1 thắng được nửa số tiền cược nhân với tỷ lệ cược, nếu tổng số bàn thắng của cả trận từ 2 bàn thắng trở xuống thì thua hết số tiền cược. Kết quả trận đấu tổng số bàn thắng là 3 bàn, do vậy T1 thắng cược nửa tiền nhân với tỷ lệ cược thành 27,9 điểm tương ứng số tiền 1.395.000 đồng. Đ đã thanh toán số tiền thua cược này cho T1 bằng tiền mặt. Số tiền đánh bạc giữa Đ và T1 trong trận đấu này là 4.395.000 đồng.

Ngày 25/02/2025, Trần Văn K tham gia đặt cược trận đấu giữa đội F với P U21 trong khuôn khổ giải bóng đá chuyên nghiệp Anh U, K chọn cá cược kèo xỉu 3, tỷ lệ tiền thắng 0.81 (Có nghĩa là nếu trận đấu kết thúc mà tổng tỷ số của hai hiệp dưới 3 bàn thì K thắng, 3 bàn thắng thì hoà còn trên 3 bàn thắng thì thua. Kết quả K đặt cược 374 điểm tương ứng với số tiền 18.700.000 đồng Kết thúc trận đấu đội F thắng 5-0 nên K thua 374 điểm tương ứng số tiền 18.700.000 đồng. Số tiền này anh K chưa thanh toán cho Đ.

Ngày 07/03/2025, Trần Lương Đ đã đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh P tự thú. Cùng ngày 07/3/2025, Trần Văn K đã đến cơ quan điều tra để đầu thú. Tại cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, Trần Lương Đ và Trần Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình như đã nêu trên. Đoàn tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13; số imei: 863784061833906; 863784061833914; gắn sim số 0568.818.888; K tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc, số I: 35542707050153, là điện thoại Đ và K sử dụng để đăng nhập và đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá.

Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với Nguyễn Đình T1, tại cơ quan điều tra T1 khai nhận hành vi đánh bạc với Đ như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, lắp sim số 0913635709, số IMEI: 357277091081086 là điện thoại T1 sử dụng để đánh bạc.

Về hình thức cá độ bóng đá các đối tượng đều khai nhận như sau: sử dụng điện thoại di động có kết nối mạng internet vào trang http://x311y.com đăng nhập tài khoản cá độ bóng đá của mình. Sau khi đăng nhập thành công, trang mạng cá độ bóng đá sẽ xuất hiện nhiều trận bóng đá của các giải bóng đá trên thế giới, từng trận đều có tỷ lệ cá cược và tỷ lệ thắng, thua của từng trận bóng đá, cá độ trận bóng đá nào thì người chơi chọn trận bóng đá, và số tiền cược để đặt cược theo số tiền (điểm) trong tài khoản. Sau khi kết thúc bóng đá, trang mạng cá độ bóng đá sẽ tự động tính tiền thắng, thua theo số tiền và tỷ lệ mà người chơi đã đặt cược. Căn cứ vào đó Đ sẽ thanh toán tiền thắng, thua với các đối tượng đánh bạc bằng tiền mặt.

Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng nhập, trích xuất dữ liệu từ tài khoản của Trần Lương Đ và sao lưu 02 kèo đánh bạc trên. Đối với tài khoản của Trần Văn K, Nguyễn Đình T3 cơ quan điều tra đã không đăng nhập được nên không kiểm tra được.

Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị Trung tâm I1, Bộ K2 và công nghệ cung cấp thông tin đối với tên miền https://www.x311y.com Tuy nhiên không xác minh được các thông tin liên quan đến các trang web trên.

Đối với người đã bán tài khoản cá độ bóng đá cho Đ, do Đ không nhớ số điện thoại liên hệ và không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với lần đánh bạc của Trần Lương Đ với Nguyễn Đình T1, do số tiền đánh bạc dưới 5 triệu đồng, qua xác minh Đoàn và T1 không có tiền án, tiền sự liên quan đến các tội phạm đánh bạc. Phòng C1 Công an tỉnh P đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Lương Đ với Nguyễn Đình T1 đều phạt tiền: 1.500.000 đồng và tịch thu của Nguyễn Đình T1 số tiền đánh bạc 4.395.000 đồng. Trần Lương Đ với Nguyễn Đình T1 đã thi hành xong.

Về vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13; số imei: 863784061833906; 863784061833914; gắn sim số 0568.818.888, điện thoại thu giữ của Trần Lương Đ.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu bạc, số I: 35542707050153, điện thoại thu giữ của Trần Văn K.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu đen, lắp sim số 0913635709, số IMEI: 357277091081086, điện thoại tạm giữ của Nguyễn Đình T1. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là của chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1984, khu I, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vợ của T1). Chị Y cho T1 mượn điện thoại để sử dụng việc T1 dùng điện thoại để đánh bạc chị Y không biết. Ngày 13/5/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Y chiếc điện thoại này là phù hợp.

Cáo trạng số 39/CT-VKSPT-P2 ngày 02 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Trần Lương Đ và Trần Văn K đều phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Lương Đ và bị cáo Trần Văn K đều phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 54, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Lương Đ.

Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn K.

Về Hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Lương Đ số tiền từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.

Xử phạt bị cáo Trần Văn K 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn K cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13; số Imei: 86378406833906; 86378406183314; điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Trần Lương Đ và tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Ihone 6S màu bạc; số Imei: 35542707501503; điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Trần Văn K. Điện thoại bị cáo Đ và bị cáo K sử dụng làm phương tiện liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nhưng còn giá trị sử dụng để nộp vào ngân sách nhà nước.

Tịch thu 01 sim điện thoại của Trần Lương Đoàn số 0568.818.888, số seri sim: 8984048000918672817 không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

Đối với điện thoại thu giữ của Nguyễn Đình T1 cơ quan điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên đã xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

Tịch thu tiền ngân hàng N 18.700.000 đồng bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội để nộp ngân sách nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Lương Đ nộp biên lai thu tiền số 0001038, nộp số tiền 25.000.000 đồng và nộp biên lai thu tiền số 0001039 nộp số tiền 35.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Do có quen biết xã hội, nên Trần Lương Đ đã cắt từ tài khoản đánh bạc trên mạng Internet của mình ra thêm 02 tài khoản M và giao cho Trần Văn K và Nguyễn Đình T1 để đánh bạc dưới hình thức thức cá độ bóng đá.

Ngày 25/02/2025, Trần Văn K đã sử dụng tài khoản KQ97050100G, tham gia đặt cược trận đấu giữa đội F với P U21 trong khuôn khổ giải bóng đá chuyên nghiệp Anh U. K đặt cược 374 điểm tương ứng với số tiền 18.700.000 đồng. Kết thúc trận đấu K thua nên phải trả cho Đ 18.700.000 đồng. Số tiền đánh bạc giữa K và Đ trong trận đấu này là 18.700.000 đồng. Số tiền này K chưa thanh toán cho Đ.

Ngoài ra, ngày 28/11/2024, Trần Lương Đ còn đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá qua mạng I với Nguyễn Đình T1 với tổng số tiền đánh bạc là 4.395.000 đồng. Số tiền đánh bạc lần này Đ đã thanh toán cho T1 và đã bị truy thu.

Trong vụ án này Trần Lương Đ, Trần Văn K đã sử dụng mạng Internet để tham gia đánh bạc với số tiền đánh bạc là 18.700.000 đồng. nên bị cáo Trần Lương Đ và bị cáo Trần Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 321 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất và vai trò của từng bị cáo thấy rằng:

Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo đều là nghiêm trọng; trong đó vai trò của bị cáo L và bị cáo K là người trực tiếp đánh bạc với nhau nên chỉ là phạm tội đồng phạm giản đơn. Vì vậy, cần phải xem xét tính chất, vai trò của từng bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng tính chất, hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[4] Xét về các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Trần Lương Đ: Bị cáo Đ đã đến trình báo cơ quan điều tra trước khi bị phát hiện về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Đ đã tự nguyện khai báo giúp cho việc điều tra được thuận lợi, nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền phạm tội, bị cáo có bố đẻ là người có công cách mạng nên bị cáo được tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Trần Văn K: Bị cáo K thành khẩn khai báo giúp cho việc điều tra được thuận lợi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1

Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo là đầu thú về hành vi phạm tội của mình quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

4.2 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Trần Lương Đ và bị cáo Trần Văn K đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.3 Về nhân thân của các bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội cả 02 bị cáo đều có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Đ được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 01 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặc dù bị cáo bị xử phạt hành chính nhưng trong cùng hành vi đánh bạc bị khởi tố nên bị cáo đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để chuyển khung hình phạt đối với bị cáo và xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Lương Đ. Bị cáo Trần Văn K được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ áp dụng tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên cũng chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, mà còn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:

“3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Xét thấy: Bị cáo Đ bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, bị cáo K không tài sản có giá trị. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đ và bị cáo K.

[6] Về xử lý vật chứng:

02 điện thoại di động thu giữ của hai bị cáo Đ và bị cáo K được hai bị cáo sử dụng làm phương tiện hiện thực hiện hành vi phạm tội, hiện nay còn giá trị sử dụng nên phải tịch thu để sung quỹ nhà nước.

02 sim điện thoại thu giữ của bị cáo Đ và bị cáo K không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Đình T1 nhưng quá trình điều tra làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra xử lý vật chứng trả lại cho sử dụng nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Số tiền ngân hàng N 18.700.000 đồng bị cáo Đ và bị cáo K thống nhất đánh bạc nên phải tịch thu để nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 60.000.000 đồng bị cáo Trần Văn Đ1 tạm nộp cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí: Các bị cáo đều phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng:

    Căn cứ điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 321, Điều 54, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Lương Đ.

    Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 2 Điều 321, khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn K.

  2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Lương Đ và bị cáo Trần Văn K đều phạm tội “Đánh bạc”.
  3. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Trần Văn K 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng; thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao bị cáo Nguyễn Văn K1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục người đó.
    • Trong thời gian thử thách nếu Trần Văn K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
    • Xử phạt bị cáo Trần Lương Đ số tiền 80.000.000 đ (Tám mươi triệu đồng).
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13; số Imei: 86378406833906; 86378406183314; điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Trần Lương Đ và tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Ihone 6S màu bạc; số Imei: 35542707501503; điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của Trần Văn K. Điện thoại bị cáo Đ và bị cáo K sử dụng làm phương tiện liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nhưng còn giá trị sử dụng để nộp vào ngân sách nhà nước.

    Tịch thu 01 sim điện thoại của Trần Lương Đoàn số 0568.818.888, số seri sim: 8984048000918672817 không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

    (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 06/6/2025, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ)

    Tịch thu tiền ngân hàng N 18.700.000 đồng bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội để nộp ngân sách nhà nước.

    Tạm giữ số tiền 25.000.000 đồng nộp tại biên lai thu tiền số 0001038 ngày 19/6/2025 và tạm giữ số tiền 35.000.000 đồng nộp tại biên lai thu tiền số 0001039 ngày 20/6/22025 do bị cáo Trần Lương Đ nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ để đảm bảo thi hành án.

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

    Buộc bị cáo Trần Lương Đ và bị cáo Trần Văn K, mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Phòng PC01, PV06 CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV Liên quan;
  • - Lưu: HS, AV.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 60/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Lương Đoàn và ĐP phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger