Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LAI CHÂU

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HS-ST

Ngày 20 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Nga
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung
  • Ông Giàng A Chỉnh

- Thư ký phiên toà: Ông Lý Văn Thắng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên toà: ông Tăng Bá Vương, Kiểm sát viên.

Ngày 20/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn T; Tên gọi khác: không có; sinh ngày 12/7/2004 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Giáy; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lý Văn T1, sinh năm 1981 và bà Trần Thị C, sinh năm 1982; Vợ, con: chưa có; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 16/2022/HS-ST ngày 05/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Lý Văn T 04 năm tù về tội “ Cố ý gây thương tích” và được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 11/5/2024 bị cáo T được tha tù trước thời hạn có điều kiện và đang phải chấp hành thời gian thử thách 01 năm 03 tháng 27 ngày thì phạm tội mới nên T chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ sở tạm giữ, tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Thanh T2, sinh năm 2004; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng tháng 12/2024, Vũ Thanh T2, sinh năm 2004, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu có quen một người đàn ông tự giới thiệu tên là T3, không rõ nhân thân lai lịch. Ngày 06/01/2025, T2 đang đi chơi ở khu vực ao cá Bác Hồ thuộc Tổ D, phường T, thành phố L thì gặp T3, T3 đã nhờ T2 tìm mua hộ Ketamine để sử dụng, T2 đồng ý. Sau đó T2 sử dụng tài khoản Facebook “Vũ T2” liên lạc qua Messenger với tài khoản Facebook “Hoàng Con” của Lý Văn T, sinh năm 2004, trú tại bản Nà Bỏ, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu hỏi mua Ketamine của T nhưng T2 không nói cho T biết T2 mua Ketamine hộ Tiêu. Qua trao đổi mua bán, T đồng ý bán Ketamine cho T2 với giá 3.100.000 đồng/01 chỉ nhưng T chưa có Ketamine nên cả hai chưa tiến hành giao dịch mua bán ngay.

Khoảng 11 giờ ngày 07/01/2025, khi T đang đi chơi tại bản Nà Ít, xã N, huyện T thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, nhìn giống người nghiện ma túy nên T đã hỏi mua Ketamine của người này. Qua trao đổi mua bán, T mua được của người đàn ông nói trên 01 gói Ketamine là 01 túi zip màu trong suốt, miệng túi có khóa, một mặt túi zip có in hình con vật màu hồng, bên trong là tinh thể màu trắng (cất giấu trong 01 chiếc khẩu trang màu trắng) với giá 2.500.000 đồng. Mua bán xong, T cất giấu chiếc khẩu trang màu trắng có chứa gói Ketamine vào túi áo đang mặc rồi đi nhờ xe của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đến khu vực ao cá Bác H thuộc tổ D, phường T, thành phố L để chơi. Khoảng 20 giờ ngày 07/01/2025, khi T đang chơi ở khu vực ao cá Bác Hồ thì T2 liên lạc với T qua M rồi cả hai hẹn nhau đến khu vực ao cá Bác H để giao dịch mua bán ma túy. Trao đổi với T xong, T2 cùng với người đàn ông tên T3 đi đến ngõ B, đường T, thuộc tổ D, phường T thì người đàn ông tên T3 đứng đợi ở ngõ B, đường T còn T2 đi tìm gặp T. Khi gặp T thì T2 đưa cho T 1.000.000 đồng để đặt cọc mua Ketamine rồi bảo T đi cùng T2 đến ngõ B đường T để giao Ketamine và nhận nốt số tiền 2.100.000 đồng còn lại. Hồi 20 giờ 45 phút cùng ngày 07/01/2025, T đi cùng T2 đi đến ngõ B, đường T thuộc tổ D, phường T, thành phố L thì gặp người đàn ông tên T3 cũng đang có mặt tại đây. Lúc này T chưa kịp giao Ketamine cho T2 và nhận nốt số tiền còn lại thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về K - Ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đ phát hiện. Khi thấy tổ công tác, người đàn ông tên T3 đã nhanh chóng bỏ chạy thoát, tổ công tác đã kịp thời khống chế, bắt giữ T, T2 và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Tại Kết luận giám định số 157/KL- KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Số tinh thể, màu trắng thu giữ của Lý Văn T có khối lượng là 0,87 gam, là ma túy, loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định số 170/KL-KTHS ngày 14/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng có mã hiệu lần lượt là HY21388418 và XV16857196 gửi đến giám định là tiền thật.

Cáo trạng số 25/CT-VKSTP ngày 24/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã truy tố Lý Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Thanh T2 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong quá trình điều tra, trong đơn xin xét xử vắng mặt đều trình bày hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Lý Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; Áp dụng khoản 2 Điều 56, khoản 4 Điều 66 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tù 01 năm 03 tháng 27 ngày tù bị cáo chưa chấp hành của bản án số 16/2022/HS-ST ngày 05/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu. Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành từ 03 năm 09 tháng 27 ngày tù đến 04 năm 27 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2025.
  • Về hình phạt bổ sung: Đề nghị hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự;
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 01 túi zip nilon màu trong suốt, miệng túi có khóa, một mặt túi zip có in hình con vật màu hồng; 01 khẩu trang màu trắng; Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Lý Văn T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0362825901, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0862906145.
  • Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  • Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa.
  • Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà, có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 20 giờ 45 phút ngày 07/01/2025, tại tổ D, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu, Lý Văn T đã bán trái phép 0,87 gam Ketamine cho Vũ Thanh T2 với giá 3.100.000 đồng để kiếm lời. Khi T mới nhận được 1.000.000 đồng tiền đặt cọc mua Ketamine của T2, chưa kịp giao Ketamine cho T2 và nhận nốt số tiền 2.100.000 đồng còn lại thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đ phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Lý Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nhưng do hám lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Lý Văn T có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

Điều 251. Tội Mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[...]

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, không có tiền sự và có 01 tiền án tại bản án số 16/2022/HS-ST ngày 05/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Lý Văn T 04 năm tù về tội “ Cố ý gây thương tích” và được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 11/5/2024 bị cáo T được tha tù trước thời hạn có điều kiện và đang phải chấp hành thời gian thử thách 01 năm 03 tháng 27 ngày thì phạm tội mới nên T chưa được xóa án tích. Vì vậy bị cáo Lý Văn T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng đối với bị cáo.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 38, khoản 2 Điều 56, khoản 4 Điều 66 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt tù đối với lần phạm tội này và tổng hợp hình phạt tù 01 năm 03 tháng 27 ngày tù bị cáo chưa chấp hành của bản án số 16/2022/HS-ST ngày 05/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử cần quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,87 gam Ketamine thu giữ của bị cáo Lý Văn T, cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ làm mẫu giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 túi zip nilon màu trong suốt, miệng túi có khóa, một mặt túi zip có in hình con vật màu hồng, 01 khẩu trang màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0362825901. Xét thấy vật chứng nêu trên là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy và tịch thu, hóa giá sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0862906145 thu giữ của Vũ Thanh T2. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là công cụ T2 trực tiếp sử dụng để nhắn tin, gọi điện trao đổi mua bán ma túy với bị cáo T. Vì vậy cần xác định chiếc điện thoại thu giữ của T2 là vật chứng liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo Lý Văn T nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng có mã hiệu lần lượt là HY21388418 và XV16857196 thu giữ của Lý Văn T là tiền T đã bán ma túy cho T2. Xét thấy vật chứng trên là khoản thu lợi bất chính từ việc bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Các vấn đề khác của vụ án:

Bị cáo Lý Văn T khai nguồn gốc số Ketamine bị thu giữ là mua của một người đàn ông bị cáo gặp tại bản Nà Ít, xã N, huyện T và sau khi mua được Ketamine thì bị cáo đã đi nhờ xe máy của một người đàn ông để đến thành phố L. Tuy nhiên, do bị cáo T không biết nhân thân, lai lịch của hai người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với việc Vũ Thanh T2 khai nhận mua hộ 0,87 gam Ketamine cho người đàn ông tên T3 để người này sử dụng. Do T2 không biết nhân thân lai lịch của người đàn ông này và không có tài liệu chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Kết quả điều tra xác định Vũ Thanh T2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự hoặc bị kết án về các tội quy định tại Điều 248 đến Điều 252 Bộ luật hình sự nên việc T2 mua hộ người đàn ông tên T3 0,87 gam Ketamine để T3 sử dụng không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, ngày 31/3/2025 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 2 Điều 56, khoản 4 Điều 66, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt tù bị cáo chưa chấp hành của bản án số 16/2022/HS-ST ngày 05/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu là tù 01 năm 03 tháng 27 ngày tù. Hình phạt chung bị cáo Lý Văn T phải chấp hành là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2025.
  3. Về vật chứng của vụ án:
    • Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 túi zip nilon màu trong suốt, miệng túi có khóa, một mặt túi zip có in hình con vật màu hồng, 01 khẩu trang màu trắng.
    • Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số IMEI 354842096324329, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0362825901, trên sim có in dãy số 8984048000913403906 và điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, số IMEI 352380204217657, số IMEI 2: 352380204210298, bên trong có gắn 01 thẻ sim số 0862906145, trên sim có in dãy số 8984048000069474996.
    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng gồm 02 tờ tiền Việt Nam loại giấy polime, mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) có mã hiệu lần lượt là HY21388418 và XV16857196.
    • (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 30 phút ngày 29/4/2025 giữa Công an tỉnh L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu).
  4. Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
  5. Về quyền kháng cáo:
    • Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Thanh T2 có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ sở tạm giữ, tạm giam thành phố Lai Châu
  • thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND thành phố Lai Châu;
  • - Chi cục THADS thành phố Lai Châu;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án Lý Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" ,
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger