Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HS-ST.

Ngày: 19-6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Trọng Di
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Lam

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhật Văn, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:48/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/02/1989, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cha: Nguyễn Văn L, sinh năm: 1944 (Đã chết) và Mẹ: Huỳnh Thị B, sinh năm: 1947; Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; A, chị, em ruột: 09 người, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1986; Vợ: Phạm Thị T1, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: Ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016

Bị cáo bị bắt ngày 13/02/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T, có mặt.

Bị hại: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối năm 2024, Nguyễn Tuấn T đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị thất nghiệp, bản thân không có tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. T lập ra trang Facebook cá nhân tên “Khô Mực Ngọc T3” có địa chỉ tại thành phố B và lấy các hình ảnh về mực khô, cá khô từ các trang Facebook của người khác về để đăng tải lên quảng cáo cho trang “Khô Mực Ngọc T3” của T. Ngày 27/12/2024, Nguyễn Thị T2, sinh năm 1994, cư trú: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận là người buôn bán các mặt hàng hải sản khô lên mạng xã hội Facebook tìm nguồn mực khô mới để mua. Sau đó, T2 tìm thấy thông tin của Facebook tên “Khô Mực Ngọc T3” chuyên cung cấp các mặt hàng mực khô trên cả nước. T liên hệ và nhắn tin trao đổi nói chuyện trên Messenger với Nguyễn Tuấn T là chủ tài khoản Facebook “Khô Mực Ngọc T3” thì được T gửi hình ảnh và giới thiệu các sản phẩm khô mực tại cửa hàng cho T2 xem. Đến ngày 28/12/2024, T2 đồng ý đặt mua của T đơn hàng gồm: 01 cây mực khô có khối lượng 50kg có giá 450.000 đồng/01kg, thành tiền là 22.500.000 đồng; 01 cây mực túi khô nguyên con có trọng lượng 70 kg có giá 150.000 đồng/01kg, thành tiền 10.500.000 đồng; tổng giá trị đơn hàng là 33.000.000 đồng. Sau khi thống nhất giá cả và các mặt hàng cần trao đổi, T thường xuyên gửi các hình ảnh về việc đóng hàng và vận chuyển hàng cho T2 để tạo lòng tin và yêu cầu T2 chuyển cho T tổng số tiền 33.000.000 đồng đến tài khoản cá nhân của T số 6440205516640 tên NGUYEN TUAN T mở tại ngân hàng A thì T mới chịu gửi hàng. Thương tin tưởng T nên đã sử dụng dịch vụ Internet Banking của ngân hàng A chuyển số tiền 33.000.000 đồng từ tài khoản số 4804205246970 của Nguyễn Thị T2 đến tài khoản số 6440205516640 của Nguyễn Tuấn T. Sau khi nhận được tiền, T sử dụng điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh có gắn sim số thuê bao 0786926508 của T nhờ một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh tự xưng tên T3 để gọi điện thoại nói chuyện với T2 để tạo lòng tin, sau khi nói chuyện xong T cho người phụ nữ trên 5.000.000 đồng. Sau đó T tiếp tục gửi các hình ảnh về việc đóng gói và chuyển hàng lên xe cho T2 để tạo lòng tin. Đến tối ngày 28/12/2024, do chưa nhận được hàng từ T nên T2 có nhiều lần gọi và nhắn tin cho T trên ứng dụng Messenger nhưng không có phản hồi, sau đó T đã chặn liên lạc với T2, vứt bỏ sim điện thoại 0786.926.xxx, thu hồi các tin nhắn đã trao đổi với T2, xóa bỏ hết tất cả các ứng dụng mạng xã hội và nội dung trao đổi giữa T và T2 trên điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của T để chiếm đoạt số tiền 33.000.000 đồng.

Đối với số tài khoản 6440205516640, chủ tài khoản NGUYEN TUAN T mở tại ngân hàng A là do Nguyễn Tuấn T mở nhưng T khai nhận T sử dụng số điện thoại 0338.249.xxx của Phạm Thị T1 (là vợ của T) để đăng kí mở thẻ tại ngân hàng nên khi T2 chuyển tổng số tiền 33.000.000 đồng cho T, Phạm Thị T1 là người nhận được tiền do T1 đang quản lý thẻ của T. Sau đó, T gọi điện thoại về cho T1 và nói đây là số tiền do T làm ăn tiết kiệm được và yêu cầu T1 rút hết đưa cho T số tiền 33.000.000 để T tiêu xài cá nhân.

Ngày 30/12/2024, Nguyễn Thị T2 trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Ngày 12/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện T phối hợp với Công an xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Nguyễn Tuấn T phát hiện thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của T.

Về tang vật chứng:

Đã chuyển vào kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh thu giữ của Nguyễn Tuấn T.

Về trách nhiệm dân sự:

Nguyễn Tuấn T đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Nguyễn Thị T2 tổng số tiền 33.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Thị T2 đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn T.

Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSTP-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Nguyễn Tuấn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • + Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • + Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Nguyễn Tuấn T.

- Bị cáo Nguyễn Tuấn T thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan. Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn T không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Vào cuối năm 2024, Nguyễn Tuấn T đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng bị thất nghiệp, bản thân không có tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, T dùng thủ đoạn gian dối lấy các hình ảnh khô mực đăng tải lên mạng xã hội Facebook tên “Khô Mực Ngọc T3”. Ngày 28/12/2024, Nguyễn Thị T2 tin tưởng chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của T để đặt mua mực khô nhưng sau khi nhận được tiền, T không gửi hàng mực khô cho T2 mà chiếm đoạt tổng số tiền 33.000.000 đồng của Nguyễn Thị T2 để tiêu xài cá nhân thì bị phát hiện. Cho nên, đủ cơ sở để xác định bị cáo đã sử dụng hình ảnh và lời nói gian dối nhằm mục đích làm bị hại tin tưởng để giao cho bị cáo số tiền 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu để cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Bị cáo Nguyễn Tuấn T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi đánh vào tâm lý của người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết nhằm lừa đảo để chiếm đoạt tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác nhưng do tham lam, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc nên đã thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, có tính chất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn của xã hội, tạo tâm lý hoang mang, lo lắng của cộng đồng dân cư tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục và cải tạo bị cáo để trở thành công dân tốt.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại; Bị hại Nguyễn Thị T2 đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Tuấn T, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[5] Về tang, vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Nguyễn Tuấn T. Xét thấy đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Đ a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp.

[6] Đối với người phụ nữ tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp sức cho Nguyễn Tuấn T gọi điện thoại cho Nguyễn Thị T2, do chưa rõ nhân thân lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[7] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Bị cáo Nguyễn Tuấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn T 01 (một) năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 13-02-2025.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Nguyễn Tuấn T.

(Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 30/5/2025).

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 19-6-2025). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Tuy Phong;
  • -CA huyện Tuy Phong;
  • -THADS huyện Tuy Phong;
  • -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • -Bị cáo; Bị hại;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 60/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn T 01 (một) năm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 13-02-2025. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh của Nguyễn Tuấn T. (Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 30/5/2025). Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger