|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày: 17/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Văn Có
Ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Châu Thị Kim Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/HSST ngày 25 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Thân Đức T (tên gọi khác: Trần T1), sinh năm: 1973 tại Khánh Hòa; giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1 M, phường P (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thân Nại và bà Trương Thị B (Bồng); con: 01 con sinh năm 2003.
Tiền sự: không
Tiền án: Bản án số 48/HSPT ngày 24/6/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản công dân”. Ngày 21/9/1994 chấp hành xong hình phạt. Bị cáo nộp án phí vào ngày 31/10/2024.
Nhân thân:
- Bản án số 433/HSPT ngày 14/9/1995, Tòa án nhân dân Tối Cao tuyên phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích của công dân” và “Cướp tài sản của công dân”. Ngày 05/12/1999 chấp hành xong hình phạt.
- Bản án số 109/HSST ngày 07/6/2007, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang tuyên phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 07/01/2014 chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo tại ngoại. (Có mặt tại phiên toà)
* Bị hại: Ông Trần Văn B1, sinh năm: 1979, địa chỉ: 7 đường B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Người làm chứng:
- - Bà Đào Thị Khánh H, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ E đường G, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
- - Ông Văn Công K, sinh năm: 1968, địa chỉ: A M, phường P (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
- - Ông Phạm Q, sinh năm: 1964, địa chỉ: C hẻm L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 27/6/2023, Thân Đức T cùng Đào Thị Khánh H đang bán quán tại nhà số B khóm Q, phường P, thành phố N, thì Trần Văn B1 đến mua bia uống. Lúc này, B1 nhớ lại chuyện trước đây nên chửi H (do trước đó H và B1 có quan hệ tình cảm với nhau) thì giữa T và B1 xảy ra mâu thuẫn, kình cãi nhau. T cầm ly thủy tinh sang bàn B1, thấy vậy B1 dùng tay đấm 01 phát vào mặt T. Lúc này, T dùng ly thủy tinh đập 01 phát vào vùng má trái của B1 làm vỡ ly thủy tinh. Tiếp đó, T ôm Bảo vật xuống dưới nhà làm mảnh vỡ ly thủy tinh và bàn ghế xung quanh trúng vào người B1 gây thương tích. Thấy vậy, H vào can ngăn nên T bỏ đi về, còn B1 được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 588/23/KLTTCT-PYKH ngày 15/8/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh K tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn B1: vùng trán trong chân tóc có 02 vết sẹo, vùng má phải có 01 vết sẹo, vùng môi trên có 01 vết sẹo, vùng cằm có 01 vết sẹo, vùng góc hàm trái có 01 vết sẹo, vùng cổ (dưới hàm trái) có 01 vết sẹo, vùng cổ có 01 vết sẹo, vùng ngực có 01 vết sẹo, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Thương tích vùng cằm, vùng góc hàm trái và vùng cổ (dưới hàm trái) là do vật sắc gây nên, còn thương tích vùng trán, vùng má phải, vùng môi trên, vùng cổ - ngực là do vật tày gây nên.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Thân Đức T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi của mình, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại làm đơn xin rút đề nghị khởi tố vụ án.
Tại Cáo trạng số: 273/CT-VKSNT ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Thân Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Thân Đức T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thân Đức T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, là một công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Thân Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 588/23/KLTTCT-PYKH ngày 15/8/2023 của Trung tâm P – Sở Y tế tỉnh K và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời, qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 27/6/2023, tại nhà số B khóm Q, phường P (nay là phường T), thành phố N, Thân Đức T đã có hành vi dùng ly thủy tinh đánh Trần Văn B1 gây thương tích tại vùng trán, má phải, môi, cằm, góc hàm trái, cổ và vùng ngực với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh B1 là 18%.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điều khoản nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân, xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án kết án nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản công dân” theo Bản án số 48/HSPT ngày 24/6/1993. Ngày 21/9/1994, bị cáo chấp hành xong án phạt tù, chưa nộp án phí. Ngày 31/10/2024, bị cáo nộp án phí đối với bản án trên nên vẫn thuộc trường hợp chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo – đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; sau khi phạm tội, bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại - đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; mặt khác, bị hại làm đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác:
Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung với nội dung đối chiếu, so sánh dấu vân tay của Trần T1 và Thân Đức T có phải cùng một người hay không; xác minh về mẹ của bị cáo là Trương Thị B2 hay Trương Thị B và xác minh về việc nộp án phí của bị cáo tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa đối với Bản án số 48/HSPT ngày 24/6/1993 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuy nhiên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại phiên tòa, bị cáo Thân Đức T khai nhận bị cáo còn có tên gọi khác là Trần T1, mẹ của bị cáo tên là Trương Thị B (hoặc B2) và bị cáo mới nộp án phí của Bản án số 48/HSPT ngày 24/6/1993 vào ngày 31/10/2024. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ là bản sao lý lịch bị can ngày 08/02/1995, biên lai thu tiền ngày 31/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang và lời khai của bị cáo để tiến hành xét xử vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo Thân Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm đ khoản 2 (dẫn chiếu điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Bị cáo Thân Đức T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Thân Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Triều |
Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 60/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt tội CYGTT
