Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HS-ST

Ngày: 10-4-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Dũng
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QÐST-HS ngày 18 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; sinh ngày: 16/11/1981 tại Vĩnh Long; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 (chết) và bà: Huỳnh Thị T2; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 tại Trại giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A.

(Bị cáo có mặt).

Bị hại: Bà Nguyễn Thanh H, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: T9G H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thanh H và bị cáo Nguyễn Văn T có mối quan hệ tình cảm nam, nữ với nhau. Bà Nguyễn Thanh H có hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức mua, bán số đề ăn tiền. Ngày 05/07/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) đã khởi tố vụ án hình sự “Tổ chức đánh bạc và đánh bạc”. Các buổi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), bà H đều nhờ bị cáo T đưa đón và kể lại quá trình làm việc cho T nghe. T nói với bà H để T tìm cách liên hệ với Điều tra viên thụ lý vụ án của H, giúp H không bị xử lý, bắt giam. Đến ngày 25/4/2024, T sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyen Truong" nhắn tin qua tài khoản Zalo của H tên “Thanh Huyen” với những nội dung: Điều tra viên Nguyễn Văn P hẹn gặp T và nói cần đưa cho Điều tra viên P số tiền 100.000.000 đồng để giúp H kéo dài thời gian, không bắt giam. Sau đó, T đưa ra hướng giải quyết là đề nghị bà H cầm cố chiếc xe ô tô biển số: 51D-742.68 lấy tiền “lo” cho Điều tra viên P. Tiếp đó T nhắn tin nhiều lần với bà H với nội dung Điều tra viên P hối thúc việc đưa tiền và số tiền phải đưa tăng lên là 200.000.000 đồng nếu không sẽ không giúp nữa. Do lo sợ bị bắt giam và tin tưởng T, bà H đã đồng ý cầm cố chiếc xe ô tô biển số: 51D-742.68 lấy tiền đưa cho T.

Khoảng 13 giờ ngày 26/4/2024, bà H cùng với T mang xe ô tô biển số: 51D-742.68 đến bãi xe C30 T, Phường A, Quận A gặp ông Huỳnh Thanh L để cầm cố chiếc xe của H. Bà H và ông L thỏa thuận và ký kết hợp đồng cầm cố xe ô tô biển số: 51D-742.68, với giá 300.000.000 đồng, lãi suất là 04%/tháng. Theo yêu cầu của bà H và T, ông L chuyển số tiền 288.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng S số [...], tên NGUYEN VAN TRUONG. L trừ lại, lấy trước số tiền 12.000.000 đồng là tiền lãi tháng đầu tiền. Khoảng 15 giờ 11 phút cùng ngày, bị cáo T chuyển khoản vào số tài khoản 0769868899 Ngân hàng S của bà H số tiền 100.000.000 đồng; số tiền còn lại bị cáo T nói với bà H là sẽ đưa cho Điều tra viên Nguyễn Văn P để “lo” việc cho bà H.

Ngày 19/7/2024, khi bà H được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) tống đạt các Quyết định khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam thì bà H biết mình bị lừa nên đã làm đơn tố giác hành vi của bị cáo T.

Ngày 24/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như trên. Bị cáo T khai do cần tiền để trả nợ, lợi dụng việc bà H đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) điều tra liên quan đến vụ án đánh bạc nên đã nói dối với bà H đưa tiền cho bị cáo T để “lo” cho Điều tra viên Nguyễn Văn P số tiền 200.000.000 đồng

kéo dài thời gian điều tra để bà H không bị giam giữ. Bị cáo T không quen biết ai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), không quen biết Điều tra viên Nguyễn Văn P và cũng không liên hệ được ai để liên hệ với Điều tra viên Nguyễn Văn P. Sau khi nhận số tiền 288.000.000 đồng, bị cáo T chuyển khoản cho bà H 100.000.000 đồng, số tiền 188.000.000 đồng, bị cáo T đã chuyển khoản như sau: Số tài khoản 050069356237 tên NGUYEN THI THUY ngân hàng S 40.000.000 đồng để hùn vốn làm ăn; Số tài khoản 236515429 tên NGUYEN THANH TUAN ngân hàng A 90.000.000 đồng để trả nợ; số tài khoản 6666888834567 tên LE QUANG LONG ngân hàng M 50.000.000 đồng để trả nợ, chuyển qua Internet Banking số tiền 8.000.000 đồng đến tài khoản chưa xác định, T không nhớ mục đích chuyển tiền, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) đã gửi xác minh tại ngân hàng nhưng chưa có kết quả.

Tại Cơ quan điều tra Huỳnh Văn L1 trình bày như sau: Vào ngày 26/4/2024, Nguyễn Văn T có liên hệ với ông L1 thông qua số điện thoại 0904.466.xxx nói có nhu cầu muốn bán xe ô tô bán tải, ông L1 đồng ý và hẹn gặp Nguyễn Văn T để xem xe. Cùng ngày, T đi cùng bà Nguyễn Thanh H mang xe đến địa điểm đã hẹn, bà H cùng T có đưa cho L1 xem giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đứng tên Nguyễn Thanh H, sau khi kiểm tra xe và giấy tờ xe ông L1 hỏi bà H và ông T muốn bán xe ô tô trên bao nhiêu tiền, khi này do chưa thống nhất được giá bán nên bà H nói muốn mượn trước số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất 04%/tháng và bà H để lại xe ô tô biển số 51D –742.68 để làm tin. Đến ngày 13/7/2024, bà H đã trả tiền lại cho L1 và L1 đã giao lại chiếc xe ô tô cho bà H.

Quá trình điều tra, nhận thấy bà Nguyễn Thanh H có biểu hiện bị suy giảm về thính giác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) đã trưng cầu giám định tình trạng khuyết tật của H. Tại Kết luận giám định tình trạng sức khỏe số 44/KLGDSK-TTPY.2024 ngày 18/12/2024 của Trung tâm P1 đổi với Nguyễn Thanh H, kết luận:

Nghe kém hỗn hợp hai tai mức độ nặng.

Tổn thương tai trái 88,2%. Tổn thương tai phải 92,2% -

Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể 65%”.

Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, số imei 1: 357368583 742648, số imei 2: 357497683742644, sim số 0914735879 - bị cáo T dùng để thực hiện hành vi phạm tội.

Về dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thanh H yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 188.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSQ10 ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” điểm c, khoản 2, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm k, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung, tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 188.000.000 đồng của bị hại và đề nghị xử lý vật chứng.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin sai sự thật làm cho bị hại bà Nguyễn Thanh H tưởng thật để chiếm đoạt số tiền 188.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo Nguyễn Văn T bị truy tố và xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với hành vi của bà Nguyễn Thanh H đưa tiền cho bị cáo T mục đích để đưa cho người có chức vụ, quyền hạn để không bị bắt giam là có dấu hiệu của tội “Đưa hối lộ”. Tuy nhiên bà H đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác nên Cơ quan điều tra miễn trách nhiệm hình sự đối với bà H là có cơ sở.

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội đối với người khuyết tật nặng được quy định tại điểm k, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thanh H yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 188.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền mà bị hại có lỗi để cho bị cáo T sử dụng vào việc bất hợp pháp nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 47 của Bộ luật

Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tịch thu nộp ngân sách nhà nước, bị cáo T có trách nhiệm giao nộp lại.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 gắn sim số 0914735879 thu giữ của bị cáo T. Xét thấy đây là phương tiện mà bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c, khoản 2 Điều 174; Điều 38; khoản 3 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm k, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2024.

Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 188.000.000 (một trăm tám mươi tám triệu) đồng. Bị cáo Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm giao nộp lại.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 có gắn sim số 0914735879.

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/02/2025 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Q.10; (2)
  • - Công an TP.HCM CS Q.10;(2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 60/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trường phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger