Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 60/2025/HS-PT
Ngày: 16/6/2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trường

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Ông Nguyễn Văn Cường

Thư ký phiên toà: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:

Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLPT-HS ngày 03/3/2025, do có kháng cáo của các bị cáo Trịnh Quốc T, Lê Văn L1 và Nguyễn Đình T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

* Bị cáo kháng cáo:

  1. Trịnh Quốc T, sinh ngày 21/11/1984; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Quốc V và bà Lê Thị N; có vợ là Lương Thị M và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị tạm giữ từ ngày 06/10/2024 đến ngày 11/10/2024; hiện bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

    Có mặt tại phiên tòa.

  2. Lê Văn L1, sinh ngày 22/02/1989; nơi sinh và cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Xuân S và bà Phạm Thị B; có vợ là Lê Thị Thu H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 187 ngày 23/6/2016 của Công an thành phố H xử phạt tiền 2.000.000đ về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (nộp phạt ngày 28/6/2016);

    Bị tạm giữ từ ngày 06/10/2024 đến ngày 10/10/2024; hiện bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

    Có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Đình T1, sinh ngày 06/7/1987; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình T2 và bà Nguyễn Thị X; vợ là Lê Mỹ L, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị tạm giữ từ ngày 06/10/2024 đến ngày 10/10/2024; hiện bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

    Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Ngô Bá T3, sinh năm 1953, địa chỉ: Số I đường L, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Có mặt tại phiên tòa, phần thủ tục tại phiên tòa ông T3 tự ý rời khỏi phiên tòa sau khi Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị hoãn phiên tòa của ông T3.

* Bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị:

  1. Nguyễn Xuân T4, sinh ngày 18/3/1985; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  2. Phạm Văn S1, sinh ngày 20/11/1983; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  3. Vũ Văn S2, sinh ngày 20/02/1970; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  4. Nguyễn Văn T5, sinh ngày 13/6/1976; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  5. Phạm Văn H1, sinh ngày 24/4/1990; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  6. Phạm Văn T6, sinh ngày 20/7/1987; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  7. Phạm Văn Ú, sinh ngày 01/01/1964; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);
  8. Phạm Văn T7, sinh ngày 30/8/1977; nơi sinh và cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Tòa án không triệu tập);

* Người có nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1977; trú tại: Thôn T, xã V, T, Hải Dương (Tòa án không triệu tập);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/10/2024 gia đình ông Phạm Văn B1 ở thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương tổ chức đám cưới cho con gái. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cỗ, uống rượu bên đám cưới nhà ông B1 xong, Trịnh Quốc T đi bộ sang nhà Vũ Văn S2 (là hàng xóm với ông B1) chơi. Khi đến, gia đình S2 không ai có ở nhà, vì cùng làm thợ xây với nhau nên T vào trong nhà ông S2 ngồi uống nước. Đến khoảng 20h cùng ngày Lê Văn L1, Nguyễn Xuân T4 cũng đi từ đám cưới bên nhà ông B1 sang nhà Vũ Văn S2 ngồi uống nước. L1, T, T4 ngồi nói chuyện khoảng 7-10 phút thì có người rủ đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa ăn tiền, cả ba đồng ý nên cắt quân vị từ bộ bài tú lơ khơ có sẵn tại bàn uống nước nhà Sáu (đến nay ba bị cáo không nhớ ai là người khởi xướng, cắt quân vị, ai là người đem bát đĩa lên tầng 2 do khi đó đã uống quá nhiều rượu). Sau đó T bảo L1, T4 lên gian tum chống nóng tầng 2 của nhà S2 để đánh bạc. Tại đây T lấy bát đĩa, quân vị trực tiếp xóc cái để sóc đĩa cùng L1, T4, mức độ sát phạt thấp nhất 10.000đ, cao nhất là tuỳ ý người tham gia chơi. Cả ba đánh bạc được khoảng 15-20 phút thì Phạm Văn S1 sau khi ăn cỗ, uống rượu bên đám cưới nhà ông B1 xong cũng sang nhà S2 chơi, thấy mọi người đang đánh bạc nên S1 đã tham gia đánh bạc cùng. Sau khi ăn cỗ đám cưới từ nhà ông B1 về, S2 thấy mọi người đang đánh bạc tại tum chống nóng tầng hai nhà mình nhưng không phản đối. Trong quá trình đánh bạc, thấy bát bị mẻ S1 đã hỏi mượn Sáu bộ bát đĩa mới. S2 đồng ý cầm 01 bát, 01 đĩa sứ lên đưa cho mọi người rồi cũng tham gia đánh bạc cùng. Tiếp đó, Nguyễn Văn T5, Phạm Văn H1, Phạm Văn Ú, Phạm Văn T6, Phạm Văn T7, Nguyễn Đình T1 sau khi ăn cỗ, uống rượu bên đám cưới nhà ông B1 xong có sang nhà ông Sáu C, thấy nhóm T đang đánh xóc đĩa nên đã tham gia đánh bạc cùng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày công an phát hiện bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 7.300.000đ, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ. Trong quá trình bắt giữ có sự bỏ chạy, hỗn loạn nên không thu giữ được quân bài vị.

Hình thức đánh xóc đĩa như sau: Người cầm cái dùng 04 quân vị cho vào đĩa sứ sau đó lấy bát sứ úp lên rồi dùng hai tay cầm vào bát, đĩa sứ xóc đều. Những người đánh bạc lựa chọn đặt theo cửa chẵn hoặc lẻ. Khi mở bát ra nếu có 02 hoặc 04 quân vị có màu sắc giống nhau là cửa chẵn; 01 hoặc 03 quân vị cùng màu là cửa lẻ. Người đặt tiền cửa chẵn, cửa lẻ sẽ thắng theo cửa mình đặt và được nhận số tiền bằng số tiền đã đặt cửa tương ứng, mỗi ván đặt thấp nhất 10.000đ, cao nhất tuỳ ý người chơi.

Quá trình điều tra các bị cáo khai có số tiền dùng vào việc đánh bạc như sau: T có 700.000đ; S1 có 500.000đ, L1 có 1.000.000đ, T4 có 400.000đ, S2 có 200.000đ, T5 có 640.000đ, H1 có 400.000₫, Uý có 800.000đ, T6 có 500.000₫, Tá có 500.000đ, T1 có 500.000đ. Tổng số tiền các bị cáo tự khai dùng để đánh bạc không khớp với tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 7.300.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 23/01/2025, Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Quốc T, Nguyễn Đình T1;

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn L1.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Quốc T, Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1 phạm tội đánh bạc.
  2. Xử phạt:
    • Bị cáo Trịnh Quốc T 10 tháng tù giam, được trừ 06 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 09 (chín) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
    • Bị cáo Lê Văn L1 10 tháng tù giam, được trừ 05 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 09 (chín) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
    • Bị cáo Nguyễn Đình T1 06 tháng tù giam, được trừ 05 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 5 (năm) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân T4, Vũ Văn S2, Nguyễn Văn T5, Phạm Văn H1, Phạm Văn Ú, Phạm Văn T6, Phạm Văn S1, Phạm Văn T7, hình phạt bổ sung, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/01/2025, bị cáo Nguyễn Đình T1 kháng cáo xin hưởng án treo; Ngày 24/01//2025, bị cáo Trịnh Quốc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; Ngày 06/02/2025, bị cáo Lê Văn L1 kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Trịnh Quốc T, Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người đúng tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương sau khi tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo, cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1;
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Quốc T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cụ thể như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Quốc T, Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1 phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 52, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn L1 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án.

    Trong thời gian chấp hành án, bị cáo T1 bị khấu trừ 05% thu nhập để sung quỹ Nhà nước.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc T 10 (mười) tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 09 (chín) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

Về án phí: Bị cáo Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Trịnh Quốc T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tố tụng:
    1. [1.1]. Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2]. Về nội dung:

    Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo thấy phù hợp với lời khai nhận tội của chính các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với lời khai nhận tội của các bị cáo khác trong cùng vụ án cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định:

    Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 21 giờ 30 phút ngày 05-10-2024, tại gian tum chống nóng tầng 2 của gia đình Vũ Văn S2; địa chỉ: Thôn T, xã V (trước đây là xã V), huyện T, tỉnh Hải Dương. Trịnh Quốc T, Lê Văn L1, Nguyễn Xuân T4, Phạm Văn S1, Vũ Văn S2, Nguyễn Văn T5, Phạm Văn H1, Phạm Văn T6, Phạm Văn Ú, Nguyễn Đình T1, Phạm Văn T7 đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh xóc đĩa thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.300.000₫

    Theo lời khai của các bị cáo thì tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc chỉ có 6.140.000đ, không khớp so với số tiền thu tại chiếu bạc. Tuy nhiên các bị cáo đều khẳng định quá trình đánh bạc không có ai về trước, không có ai canh gác, cầm cố cho vay tiền, ngoài 11 bị cáo nêu trên không còn ai tham gia đánh bạc nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung với tổng số tiền đã thu giữ tại chiếu bạc là 7.300.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

    Quá trình xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết của vụ án cũng được cấp sơ thẩm cơ bản làm rõ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng theo quy định của pháp luật từ đó áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là cần thiết.

  3. [4]. Xét kháng cáo của bị cáo Trịnh Quốc T: Bị cáo T tham gia đánh bạc từ đầu, lại là người cầm cái và có số tiền đánh bạc nằm trong tốp đầu (tốp có số tiền đánh bạc từ 700.000đ-1.000.000₫). Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hình phạt cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã nộp tiền án phí, bị cáo có tham gia đóng quỹ covid và có thành tích trong trình báo tai nạn giao thông và cấp cứu người bị tai nạn giao thông nên có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Tuy nhiên xét thấy hành vi phạm tội với vai trò tích cực của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây ảnh hưởng tới cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn cờ bạc trong xã hội nói chung, trên địa bàn huyện T nói riêng, do vậy, không chấp nhận kháng cáo cho hưởng án treo của bị cáo.
  4. [5]. Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn L1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo L1 tham gia đánh bạc từ đầu, mặc dù bị cáo không cầm cái nhưng có số tiền đánh bạc nhiều nhất trong vụ án (một triệu đồng) nên bị cáo cùng bị cáo T thuộc nhóm bị cáo giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã nộp tiền án phí, tại cấp phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo; ngoài ra bị cáo còn ủng hộ quỹ khuyến học năm 2022 tại xã V nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bố bị cáo ông Lê Xuân S đã thành tích xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì... đây là những tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh trong gian đoạn phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
  5. [6]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T1: Bị cáo T1 thực hiện hành vi đánh bạc sau các bị cáo khác, bị cáo không phải là người khởi xướng nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo là đồng phạm trong vụ án là có căn cứ. Ngoài ra trong quá trình đánh bạc, số tiền bị cáo T1 dùng vào việc đánh bạc là ít nhất, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã đóng tiền án phí thể hiện tinh thần chấp hành quy định pháp luật của bị cáo, ngoài ra bị cáo còn ủng hộ quỹ khuyến học năm 2023 tại xã V nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt cho bị cáo cải tạo dưới sự quản lý, giáo dục của chính quyền địa phương theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục đối với bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
  6. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
  7. [9]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo Trịnh Quốc T, Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  • - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trịnh Quốc T.
  • - Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Văn L1 và Nguyễn Đình T1.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc T, Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
    1. 2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Quốc T.

      Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc T 09 (chín) tháng tù, được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

      Bắt tạm giam bị cáo tại phiên tòa để bảo thi hành án.

    2. 2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn L1.

      Xử phạt:

      Bị cáo Lê Văn L1 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Lê Văn L1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    3. 2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình T1.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án.

      Giao bị cáo Nguyễn Đình T1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

      Khấu trừ 5% thu nhập của các bị cáo Nguyễn Đình T1 để sung quỹ Nhà nước trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.

  3. 4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trịnh Quốc Tuấn Lê Văn L1, Nguyễn Đình T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. 5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Công an tỉnh Hải Dương (03 bản);
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I- TANDTC;
  • - TAND huyện Thanh Hà,
  • tỉnh Hải Dương (09 bản);
  • - VKSND, Chi cục THADS
  • huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP, lưu Tòa Hành chính.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 60/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Quốc T và đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger