Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU


Bản án số: 60/2025/HS-PT

Ngày 13-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

  • Các Thẩm phán: Ông Đặng Đức Hào

  • Ông Hoàng Trí Thức

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 230/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Quốc V do có kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại - bà Lê Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Quốc V, sinh năm 1979 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ D, ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1952; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 07 anh chị em; Bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Đặng Thị Ngọc H; Có 02 người con lớn sinh năm 2012 và nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo được tại ngoại và hiện cư trú tại địa chỉ Tổ D, ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

- Bị hại: Bà Đặng Thị Ngọc H – SN 1990; nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị hại H: Bà Lê Thị L – SN 1952; nơi cư trú: Tổ B, khu phố P, phường M, thị xã P (thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị L: Bà Đặng Thị Ngọc N, sinh năm 2002, nơi cư trú: Khu phố P, phường M, thị xã P (thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và bà Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1998, nơi cư trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (bà N, bà Ý có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Ngọc H1 – SN 1994, nơi cư trú: Tổ A, Khu phố P, phường M, thị xã P (thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (có mặt)

- Người làm chứng: Ông Trần Ngọc Đ - SN 1981, bà Đặng Thị Ngọc H2 - SN 1980, ông Nguyễn Minh P – SN 1978, bà Huỳnh Thị K – SN 1987, bà Đặng Thị Ngọc H3 – SN 1986, bà Đặng Thị Ngọc H4 – SN 1978, bà Đặng Thị Ngọc D – SN 1976;

Cùng nơi cư trú: Tổ A, Khu phố P, phường M, thị xã P (thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (bà H2, ông P, bà H4 có mặt; ông Đ, bà K, bà H3, bà D vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 06/02/2022, gia đình chị gái H là chị Đặng Thị Ngọc H2 cùng chồng là anh Trần Ngọc Đ có tổ chức tiệc nhậu ở tại tổ B, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và mời các anh chị em trong nhà đến ăn nhậu. Tại tiệc nhậu có vợ chồng V, H, anh Đ, chị H2, anh Đặng Ngọc H1 (em trai chị H), anh Nguyễn Minh P. Nhậu được khoảng một tiếng thì V đứng lên về nhà mình tại huyện L, tỉnh Đồng Nai để chuẩn bị đi làm vào sáng thứ hai, những người còn lại tiếp tục nhậu. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, V gọi điện cho chị H về thì không được nên V đi xe máy xuống nhà anh Đ để nói chị H ngưng nhậu ra về chăm lo cho các con ngày mai chuẩn bị đi học.

Tuy nhiên, chị H không đồng ý và nói: "Có hai đứa nhỏ này cũng lo không được cử lèo nhèo hoài vậy?”. Thấy vậy, V bức xúc dùng chân đá vào người chị H một cái thì được anh Đ, anh P can ngăn và kéo V ra ngoài đường, nói V đi về nói chuyện sau thì V đồng ý ra về, anh Đ và anh P cũng đi vào trong nhà. Ngay lúc này, anh H1 đang ở trong nhà liền cầm một con dao thái lan cán vàng, lưỡi dao bằng kim loại đang gọt trái cây chạy ra ngoài đường đuổi theo V để đâm, V bỏ chạy vào nhà dân gần đó rồi đóng cánh cửa cổng lại thì H1 đâm hụt con dao trúng vào cánh cửa, khiến lưỡi dao bật văng ra khỏi cán. Lúc này, thấy không còn đường trốn nên Vũ nhặt lưỡi dao trên và lao ra ngoài cổng bỏ chạy thì anh H1 đang đứng bên ngoài cổng, hai bên lao vào giằng co, đánh nhau. Qua trình giằng co, V cầm lưỡi dao nêu trên đâm trúng cổ anh H1 gây thương tích. Khi thấy anh H1 chảy máu, V tiếp tục bỏ chạy. Lúc này anh chị em nhà H1 chạy ra la hét, H1 nhặt cục Đ1 ném vào lưng V, V cúi xuống nhặt viên đá hoa cương này lên và tiếp tục chạy, ngay lúc này chị H vẫn đuổi theo sát sau lưng V cách khoảng 01 mét. Sau khi vừa bị ném đá trúng lưng, đồng thời thấy đông anh chị em nhà H1 chạy ra la hét, có người đuổi theo sát sau lưng, xung quanh không có người can ngăn, V quay lại thấy chị H ngay phía sau, cho rằng chị H đã theo phe cả gia đình H để đuổi đánh và là người cầm đá ném vào lưng mình nên V đã dùng cục đá hoa cương đang cầm trên tay trái ném ngang theo hướng từ trái qua phải trúng vào vùng thái dương đỉnh trái trên đầu chị H rồi tiếp tục bỏ chạy về nhà mình theo hướng đi Đồng Nai. Lúc này, anh H1 vẫn đuổi theo V, dùng gậy gỗ đánh vào người V nhưng do anh H1 đã say loạng choạng nên V vùng dậy được rồi tiếp tục bỏ chạy về nhà mình. Hậu quả: anh H1 bị thương tích ở cổ, chị H bị thương tích nặng vùng đầu phải đi cấp cứu tại Bệnh viện B.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 203/TgT ngày 27 tháng 5 năm 2012 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định: 02 sẹo nhỏ vùng cổ, 01 sen nhỏ vùng đầu.

  2. Về vật gây thương tích, chiều hướng lực tác động: Các thương tích nêu trên được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật cứng có cạnh sắc tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng:

    • Với thương tích 1: Chiều từ trước ra sau.

    • Với thương tích 2: Chiều từ trái sang phải

    • Với thương tích 3: Chiều từ sau ra trước.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại của Đặng Ngọc H1 là 05% (Năm phần trăm).

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 394/TgT ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh B - Vũng đối với thương tích của chị Đặng Thị Ngọc H, kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:

    • Chấn thương sọ não cũ, biến chứng áp xe não thất, giãn não thất, liệt tứ chi mức độ vừa.

    • Khuyết sợ đáy mềm, đường kính 126mm

    • Mở khí quản cũ.

    • 01 sẹo lớn;

    • 01 sẹo trung bình;

    • 04 sẹo nhỏ;

    • Sây sát da cũ đổi màu da.

    • Có biểu hiện rối loạn về tâm thần (không tiếp xúc), có sóng chậm bệnh lý.

  2. Về vật gây thương tích, cơ chế, chiều hướng tác động:

    • Thương tích vùng đầu: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy, tác động với lực rất mạnh, khả năng tác động vào vị trí vết thương vùng thái dương đỉnh trái theo chiều hướng từ trái sang phải.

    • Thương tích ở chi: Được gây ra do sự tác động tương hỗ của vật rắn tầy “dạng cọ sát”, tác động vào vị trí thương tích theo chiều hướng từ trước ra sau.

  3. Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là: 88 % (Tám mươi tám phần trăm).

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 6101/KLGÐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực thành phố H, kết luận:

  1. Về y học: Trước và trong khi sự việc xảy ra, Đương sự tâm thần bình thường. Sau khi sự việc xảy ra cho đến hiện tại, Đương sự bị Sa sút tâm thần do chấn thương sọ não (F02.8-ICD10).

  2. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước và trong khi sự việc xảy ra, Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

    Sau khi sự việc xảy ra cho đến hiện tại, Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

  3. Ý kiến khác:

    Tỷ lệ tổn thương về tâm thần do bệnh Sa sút tâm thần do chấn thương sọ não là từ 81% đến 83%, trong trường hợp này là 82%.

    Do tỷ lệ tổn thương về thương tích của Đương sự là 88%, nên tỷ lệ tổn thương về tâm thần tâm thần của Đương sự là (100-88) *82% = 9,84%.

    Tổng tỷ lệ tổn thương về thương tích và tâm thần của chị Đặng Thị Ngọc H là 88%+9,84% = 97,84%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 203/TgT ngày 27 tháng 5 năm 2012 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại của Đặng Ngọc H1 là 05% (Năm phần trăm). Sau khi khi bị V đánh gây thương tích, anh H1 có đơn yêu cầu không khởi tố đối với hành vi gây thương tích của V, đồng thời không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

II. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HSST ngày 23/9/2024 của Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc V, phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Căn cứ vào điểm d khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 593, Điều 584, Điều 590, Điều 597 Bộ luật Dân sự; Nghị định 38/2022/NĐ-CP ngày 06/9/2022 của Chính Phủ; khoản 2, khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 02/2022/HĐTP ngày 06/9/2022;

  1. Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại tính đến hết tháng 8/2023, số tiền: 515.613.116 đ (năm trăm mười lăm triệu sáu trăm mười ba nghìn một trăm mười sáu đồng);

  2. Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại Đặng Thị Ngọc H tính đến ngày 28/3/2023: 117.000.000 đồng (một trăm mười bảy triệu đồng).

  3. Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí hợp lý và số tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bị hại tính đến ngày 28/3/2023: 132.000.000 đồng (một trăm ba mươi hai triệu đồng).

  4. Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền bù đắp về tổn thất tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm cho bị hại H: 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng).

  5. Buộc bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng cho bị hại H số tiền 4.680.000 đ/tháng (bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng/tháng).

    Về thời hạn chi trả: Được tính từ ngày 29/3/2024 cho đến khi bị hại H phục hồi được sức khỏe hoặc chết theo quy định pháp luật.

  6. Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí hằng tháng cho bà Lê Thị L với số tiền: 4.680.000đ/tháng (bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng/tháng).

    Về thời hạn chi trả: Được tính từ ngày 29/3/2024 cho đến khi bị hại H phục hồi được sức khỏe hoặc chết theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

III. Ngày 04/10/2024, bị cáo Nguyễn Quốc V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 01/10/2024, đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Thị Ngọc H – bà Lê Thị L kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và chuyển tội danh đối với bị cáo Nguyễn Quốc V từ tội “Cố ý gây thương tích” sang tội “Giết người”.

IV. Tại phiên tòa phúc thẩm:

  1. Bị cáo Nguyễn Quốc V giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện hợp pháp của bị hại thay đổi yêu cầu kháng cáo đồng ý xét xử về tội danh “Cố ý gây thương tích”, đồng thời đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo V; về trách nhiệm dân sự đề nghị trừ đi số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) bị cáo đã thanh toán ở giai đoạn phúc thẩm.

  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:

    Về tố tụng: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại là hợp lệ.

    Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đã bồi thường thêm cho phía bị hại 55.000.000đ; đại diện hợp pháp của bị hại thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt và đề nghị trừ đi số tiền 55.000.000đ mà bị cáo đã bồi thường thêm.

    Xét kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại: Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P) khi lượng hình đã đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xét xử bị cáo V 07 (bảy) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp, đúng người, đúng tội. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo và phía bị hại không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới đủ căn cứ để xem xét cho yêu cầu kháng cáo của mình.

    Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  3. Bị cáo Nguyễn Quốc V xin giảm nhẹ hình phạt.

  4. Người đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo V.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin lỗi gia đình bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội được chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong suốt quá trình điều tra, kết luận điều tra và cáo trạng truy tố đối với bị cáo, cũng như phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 06/02/2022 tại tổ B, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Quốc V đã có hành vi sử dụng cục Đ1 đang cầm trên tay trái ném ngang theo hướng từ trái qua phải trúng vào vùng đầu bên trái gây thương tích cho chị H. Hậu quả: Tổng tỷ lệ tổn thương về thương tích và tâm thần của chị Đặng Thị Ngọc H là 97,84%.

Do đó hành vi của Nguyễn Quốc V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo V:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại một phần cho hành vi của mình gây ra; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm mặc dù bị cáo đã bồi thường thêm 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) nhưng cũng chưa đủ cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[4] Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại:

[4.1] Như đã phân tích tại mục [2] thì hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ xét xử bị cáo về tội danh trên là hoàn toàn phù hợp.

Tuy nhiên mức án 07 năm tù là chưa tương thích với mức độ và hậu quả mà hành vi của bị cáo đã gây ra, khiến tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị H lên đến 97,84%. Do vậy, phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo V của đại diện hợp pháp của bị hại.

[4.2] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị trừ đi số tiền 55.000.000₫ (Năm mươi lăm triệu đồng) mà bị cáo đã bồi thường thêm tại giai đoạn phúc thẩm. Xét thấy tình tiết này là có thật, đã được 2 bên ghi nhận nên Hội đồng xét xử thống nhất trừ đi số tiền này vào số tiền buộc bị cáo phải bồi thường cho phía bị hại.

[5] Án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm; kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc V; chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Thị Ngọc H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc V, phạm tội “Cố ý gây thương tích”

    Căn cứ vào điểm d khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    * Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 593, Điều 584, Điều 590, Điều 597 Bộ luật Dân sự; Nghị định 38/2022/NĐ-CP ngày 06/9/2022 của Chính phủ; khoản 2, khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 02/2022/HĐTP ngày 06/9/2022;

    1. Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại tính đến hết tháng 8/2023, số tiền: 460.613.116 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu sáu trăm mười ba nghìn một trăm mười sáu đồng);

    2. Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại Đặng Thị Ngọc H tính đến ngày 28/3/2023: 117.000.000 đồng (một trăm mười bảy triệu đồng).

    3. Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí hợp lý và số tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc cho bị hại tính đến ngày 28/3/2023: 132.000.000 đồng (một trăm ba mươi hai triệu đồng).

    4. Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền bù đắp về tổn thất tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm cho bị hại H: 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng).

    5. Buộc bị cáo có nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng cho bị hại H số tiền 4.680.000 đ/tháng (bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng/tháng).

      Về thời hạn chi trả: Được tính từ ngày 29/3/2024 cho đến khi bị hại H phục hồi được sức khỏe hoặc chết theo quy định pháp luật.

    6. Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí hàng tháng cho bà Lê Thị L với số tiền: 4.680.000đ/tháng (bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng/tháng).

      Về thời hạn chi trả: Được tính từ ngày 29/3/2024 cho đến khi bị hại H phục hồi được sức khỏe hoặc chết theo quy định pháp luật.

      Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành án, thì hàng tháng còn phải thanh toán tiền lãi theo lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, trên số tiền phải thi hành án trong thời gian chưa thi hành án, cho đến khi thi hành án xong.

  2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 156/2024/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ (nay là thành phố P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  3. Án phí phúc thẩm:

    • - Bị cáo Nguyễn Quốc V nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

    • - Đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Thị Ngọc H không phải nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ;
  • - Công an thành phố Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Mỹ;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 60/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger