|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27/11/2025 “V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phùng Văn Thông;
- Ông Nguyễn Ngọc Triển;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị An – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Bùi Đình Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xử án Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2025, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn M, xã V, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã T, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt);
Bị đơn: Anh Bùi Văn V, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn M, xã V, tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 10 năm 2025, những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị H trình bày:
Chị và anh Bùi Văn V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ) ngày 15/11/2013, việc kết hôn hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh V tại thôn M, xã V, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh V có hành vi bạo lực, xúc phạm danh dự của chị, anh V ham chơi không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đầu năm 2021 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn do anh V chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần vợ chồng cãi nhau và anh V đã đánh chị nên chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân hai bên gia đình đã hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh V, chị đề nghị được ly hôn với anh V.
Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung là cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 08/9/2014; cháu Bùi Hương G, sinh ngày 06/9/2016 và cháu Bùi Hương L, sinh ngày 25/6/2018. Hiện nay cháu T, cháu G, cháu L đang sinh sống cùng chị. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không đề nghị anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty TNHH P, địa chỉ: KCN K, phường V, tỉnh Phú Thọ. Thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 13.000.000 – 15.000.000đồng/tháng, chị có nơi ở ổn định đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng các con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Toà án giải quyết;
Bị đơn anh Bùi Văn V vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên toà, quá trình làm việc bà Bùi Thị T1 là mẹ đẻ của anh V trình bày: Anh V và Chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã T cũ. Sau khi kết hôn thì chị H về chung sống cùng gia đình bà. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị H, anh V cụ thể như thế nào thì bà không rõ nhưng năm 2021 vợ chồng chị H xảy ra cãi nhau do anh V ham chơi không chăm lo cho gia đình nên chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay, chị H xin ly hôn anh V đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Chị H và anh V có 03 con chung là cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 08/9/2014; cháu Bùi Hương G, sinh ngày 06/9/2016 và cháu Bùi Hương L, sinh ngày 25/6/2018. Các cháu ở cùng chị H từ khi chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cho đến nay. Bà đồng ý để chị H nuôi dưỡng 03 cháu vì anh Vũ công V1 không ổn định, thu nhập thấp không có khả năng nuôi con. Về tài sản, công nợ của anh chị như thế nào bà không rõ. Bà có nhận được các văn bản của Toà án báo gọi anh V đến Toà án để giải quyết việc chị H xin ly hôn anh, bà đã giao toàn bộ văn bản trực tiếp cho anh V, anh V không có quan điểm gì, lý do gì anh không đến Toà án làm việc thì bà không rõ.
Biên bản xác minh ngày 06/11/2025 tại UBND xã V thể hiện: chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn V đăng ký kết hôn tại UBND xã T cũ vào ngày 15/11/2013. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh V cụ thể như thế nào địa phương không rõ vì địa phương không nhận được báo cáo và chị H cũng không nộp đơn xin ly hôn qua UBND xã. Vợ chồng chị H và anh V từ khi kết hôn ở chung với bố mẹ đẻ anh V, sau khi ly thân chị H về nhà bố mẹ chị H ở tại thôn M, xã V, tỉnh Phú Thọ, còn anh V chung sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn M, xã V, tỉnh Phú Thọ. Chị H và anh V đăng ký khai sinh cho 03 con chung là cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 08/9/2014, cháu Bùi Hương G, sinh ngày 06/9/2016 và cháu Bùi Hương L, sinh ngày 25/6/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cũ. Chị H và anh V làm gì, thu nhập bình quân cụ thể bao nhiêu địa phương không rõ. Vợ chồng anh chị có tài sản chung, tài sản riêng, nợ ai, cho ai vay địa phương không rõ. Nay chị H xin ly hôn anh V và đề nghị giải quyết về con chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Văn V. Đề nghị giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 08/9/2014; cháu Bùi Hương G, sinh ngày 06/9/2016 và cháu Bùi Hương L, sinh ngày 25/6/2018 đến khi thành niên, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn V. Bị đơn anh V cư trú tại thôn M, xã V, tỉnh Phú Thọ nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh V đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có lý do; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Văn V là hôn nhân hợp pháp, được Ủy ban nhân dân xã T cũ (nay là Ủy ban nhân dân dân xã V) đăng ký kết hôn ngày 15/11/2013. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh V chơi bời không quan tâm vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh V có hành vi bạo lực, xúc phạm danh dự của chị, năm 2021 mâu thuẫn giữa hai vợ chồng trầm trọng hơn do anh V chơi bời dẫn đến nợ nần và anh V đã đánh chị, chị cùng các con bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh V đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã nhiều năm, trong thời gian ly thân hai gia đình hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được, hai vợ chồng không quan tâm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, mặt khác anh V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án điều đó thể hiện phần nào anh V không có nguyện vọng hoà giải đoàn tụ. Do vậy, đề nghị xin ly hôn của chị H là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về con chung: Xét đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung là cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 08/9/2014; cháu Bùi Hương G, sinh ngày 06/9/2016 và cháu Bùi Hương L, sinh ngày 25/6/2018 của chị H là có căn cứ vì trong quá trình giải quyết vụ án anh V đều vắng mặt không đến Tòa làm việc thể hiện quan điểm của mình về việc nuôi con chung. Mặt khác bà T1 mẹ đẻ của anh V trình bày anh Vũ công V1 không ổn định, thu nhập thấp không có khả năng nuôi dưỡng các con nên đề nghị Toà án giao các con cho chị H nuôi dưỡng. Cháu T, cháu L, cháu G đều có nguyện vọng được ở cùng với chị H. Chị H có điều kiện để nuôi dưỡng 03 con chung. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con, giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 03 con là phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không đề nghị anh V cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên cần chấp nhận.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị H không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh V vắng mặt không có lời khai và đề nghị của anh. Khi nào anh có yêu cầu về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
[3]. Đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 56, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Bùi Văn V.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Bùi Xuân T, sinh ngày 08/9/2014; cháu Bùi Hương G, sinh ngày 06/9/2016 và cháu Bùi Hương L, sinh ngày 25/6/2018 cho đến khi thành niên. Hiện nay 03 con đang ở cùng chị H. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Sau khi ly hôn anh V có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0003580 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận: - VKSND khu vực 10 – Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự; - UBND xã Vĩnh Hưng; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huyền |
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
