Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

Số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/6/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Vũ Thị Dinh.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Tô Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968

Địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện M, tỉnh Hưng Yên

* Bị đơn: Ông Vũ Ngọc H, sinh năm 1966

Địa chỉ: Xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Bà L, ông H có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, bản trình bày ý kiến cùng tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà và ông H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 16 tháng 01 năm 2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại gia đình ông H ở xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình thời gian đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã nhiều lần làm lành nhưng tình trạng hôn nhân không cải thiện, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến năm 2021, bà L về nhà bố mẹ đẻ ở thôn X, xã X, huyện M, Hưng Yên sinh sống. Từ đó vợ chồng sống ly thân, không còn tình cảm, không quan tâm đến nhau nữa. Bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông H.

Về con chung: Bà L và ông H có 01 con chung tên là Vũ Ngọc V, sinh ngày 21/7/2002 đã thành niên, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản: Bà L xác định vợ chồng không có nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

* Tại bản tự khai, bản trình bày ý kiến, đơn đề nghị bị đơn ông Vũ Ngọc H trình bày:

Về hôn nhân: Ông đồng ý về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như bà L trình bày. Vợ chồng hiện đã sống ly thân từ năm 2018, mặc dù hai bên đã nhiều lần hòa giải để đoàn tụ nhưng không thành. Nay ông cũng xác định không còn tình cảm với bà L, bà L xin ly hôn ông đồng ý.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên là Vũ Ngọc V, sinh ngày 21/7/2002 đã thành niên, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản: Ông H trình bày vợ chồng ông có tài sản chung là 01 ngôi nhà hai tầng diện tích khoảng 70m² xây dựng trên diện tích đất bố mẹ bà L cho vợ chồng ông tại thôn X, xã X, huyện M, tỉnh Hưng Yên. Ngày 27/02/2025, ông H yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định pháp luật, ông có nguyện vọng để lại ngôi nhà cho bà L ở, bà L thanh toán giá trị nhà đất cho ông.

Ngày 12//6/2025, ông H rút yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.

* Tại biên bản xác minh ngày 21/3/2025, Ủy ban nhân dân xã T cung cấp:

Bà L và ông H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 16 tháng 01 năm 2002. Sau khi kết hôn, ông bà sinh sống tại địa phương, quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Nay bà L làm đơn ly hôn ông H, địa phương đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nếu không được đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định pháp luật để giải quyết.

Về con chung: Bà L và ông H có 01 con chung tên là Vũ Ngọc V, sinh ngày 21/7/2002 đã thành niên, ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên địa phương không có ý kiến.

Về tài sản: Ông H, bà L có tài sản chung hay không địa phương không nắm rõ, không có ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Vũ Ngọc H; đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của ông Vũ Ngọc H. Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Vũ Ngọc H có nơi cư trú tại xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, bị đơn ông Vũ Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Vũ Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà L, ông H phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không có biện pháp để hàn gắn quan hệ hôn nhân, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho bà L được ly hôn ông H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Bà L và ông H có 01 con chung tên là Vũ Ngọc V, sinh ngày 21/7/2002 đã thành niên nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về quan hệ tài sản: Ông Vũ Ngọc H rút yêu cầu về chia tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của ông H.

[6] Về án phí và chi phí tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Vũ Ngọc H có đơn xin miễn án phí chia tài sản chung, thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Trả lại ông H số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, ông H đã nhận đủ số tiền trên.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Vũ Ngọc H.
  2. Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.
  3. Về quan hệ tài sản: Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của ông Vũ Ngọc H. Ông Vũ Ngọc H có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung bằng vụ án khác.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà L đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004498 ngày 24/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình sang thi hành án.

    Ông Vũ Ngọc H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L, ông Vũ Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy;
  • - UBND xã Thái Hưng;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger