TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST.
Ngày 27/6/2025.
“V/v tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Hòa.
Ông Nguyễn Tấn Sĩ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chung Hữu Toàn, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đẳng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 237/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17/4/2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2025/QĐXXST-HN, ngày 26/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2025/QĐ-ST,ngày 10/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.
Bị đơn: Ông Cao Minh T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông T xác lập hôn nhân năm 1995 và có đăng ký kết hôn ngày 06/6/1996 tại UBND thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn, khi tiến đến hôn nhân, bà và ông T có quen nhau trước và đồng ý tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán, nữ trang ngày cưới đã bán không còn.
Quá trình chung sống đến năm 2008, ông Cao Văn T1 bỏ nhà đi không rõ nguyên nhân, bà chờ mãi nhưng ông T1 không về, đến năm 2024 bà phát hiện ông Cao Minh T đã có vợ khác, bà liên lạc qua điện thoại ông T trả lời không chung sống và yêu cầu bà làm đơn ra Tòa ly hôn, hiện tại ông T ở đâu, làm gì bà không rõ địa chỉ, ông T hay và biết rõ bà đã làm đơn khởi kiện nộp Tòa xin ly hôn và ông T cũng đồng ý ly hôn, ông T nói yêu cầu xử vắng mặt, chứ ông T không đến Tòa án để giải quyết. Do vợ chồng ly thân từ năm 2008 đến nay, hiện ông T đang sống với người phụ nữ khác nên tình cảm không còn. Nay bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Cao Minh T.
- Về nuôi con: Bà và ông T chung sống sinh 04 người con tên Cao Minh T2, sinh năm 1995; Cao Minh Phát sinh năm 1998; Cao Minh Hoa L1, sinh năm 2001 và Cao Minh Xuân Hương L2, sinh ngày 21/02/2007. Hiện các con đã thành niên nên bà không đặt ra yêu cầu giải quyết.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu phải trả: Bà không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra bà không có yêu cầu gì khác.
- Tại phiên tòa xét xử lần thứ 2, ông Cao Minh T vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên.
- Về việc tuân theo pháp luật: Thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh L, xử cho bà L được ly hôn với ông Cao Minh T, đối với 04 người con hiện tại đã thành niên nên không đặt ra yêu cầu giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng và số nợ phải thu, phải trả do các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện nên không xem xét giải quyết. Buộc bà L nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy ông Cao Minh T là bị đơn trong vụ án, tại phiên tòa xét xử lần thứ hai, ông Cao Minh T vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy bà L khởi kiện ông T yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông T, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:
- Về hôn nhân: Xét thấy bà L và ông T xác lập hôn nhân năm 1995 và có đăng ký kết hôn vào ngày 06/6/1996 tại UBND thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, vợ chồng cùng đi đăng ký kết hôn, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng:
Bà Nguyễn Thị Thanh L khai: Quá trình chung sống đến năm 2008, ông Cao Minh T bỏ nhà đi không rõ nguyên nhân, bà chờ mãi nhưng ông T không về, đến năm 2024 bà phát hiện ông Cao Văn T1 đã có vợ khác, bà liên lạc qua điện thoại ông T1 trả lời không chung sống và yêu cầu bà làm đơn ra Tòa ly hôn, hiện tại ông T1 ở đâu, làm gì thì bà không rõ địa chỉ, ông T1 hay và biết rõ bà làm đơn khởi kiện xin ly hôn, ông T1 đồng ý ly hôn và nói yêu cầu xử vắng mặt, chứ ông T1 không đến Tòa án để giải quyết. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay, ông T1 sống với người phụ nữ khác, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
Đối với ông Cao Minh T: Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Trang Thị Ngọc K (mẹ ruột ông T) nhận và bà K cam kết giao lại và thông tin cho ông T biết thời gian đến tòa để ông T tham gia tố tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ông T đều vắng mặt không có lý do nên phiên hòa giải đoàn tụ không tiến hành được. Mặt khác ông T cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án biết về yêu cầu ly hôn mà bà L đang khởi kiện yêu cầu giải quyết. Từ đó cho thấy khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng là không có kết quả.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông T xảy ra từ năm 2008 kéo dài đến nay, ông bà đều bỏ mặt, mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến tình nghĩa vợ chồng, theo bà L trình bày hiện ông T đang sống với người phụ nữ khác, mâu thuẫn tiếp tục phát sinh, tính đến nay bà L và ông T đã sống ly thân hơn 17 năm, tại phiên tòa bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn và cương quyết ly hôn với ông T. Từ nguyên nhân đó, xét thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà L, xử cho bà L được ly hôn với ông T là đúng quy định của pháp luật.
- Về quyền nuôi con: Xét thấy bà L và ông T chung sống có sinh 04 người con tên Cao Minh T2, sinh năm 1995; Cao Minh Phát sinh năm 1998, Cao Minh Hoa L1, sinh năm 2001 và Cao Minh Xuân Hương L2, sinh ngày 21/02/2007. Hiện tại các con đã thành niên, bà L không đặt ra yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung vợ chồng, số nợ phải thu, phải trả: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không tranh chấp, không khởi kiện. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh L có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng.
[5]. Xét lời của Kiểm sát viên trình bày về trình tự thủ tục tố tụng và hướng giải quyết vụ án nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 147, 228, 235, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh L.
1. Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Cao Minh T.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh L nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0011729, ngày 17/4/2025 do bà Nguyễn Thị Thanh L nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Bà Nguyễn Thị Thanh L đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo:
- Bà Nguyễn Thị Thanh L có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Ông Cao Minh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày anh nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Thanh Lâm |
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn