Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thắm
  2. Bà Nguyễn Kim Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 117/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1989
  • - Bị đơn: Ông Trần Công T, sinh năm 1988

Cùng địa chỉ thường trú: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Cùng địa chỉ tạm trú: Nhà trọ M1, số C, đường N, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 19/02/2025, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Bà M và ông T qua thời gian tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới được gia đình hai bên đồng ý; có đăng ký kết hôn vào ngày 08/02/2012 tại UBND xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.

Sau khi kết hôn bà M và ông T sinh sống và làm việc tại thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là ông T đi làm xa có quan hệ tình cảm và có con với người phụ nữ khác. Bà M không còn tin tưởng và không thể tha thứ cho ông T. Ông T còn có hành vi bạo lực đánh bà M chỉ vì lý do nhỏ trong sinh hoạt gia đình. Tình cảm vợ chồng không còn, nên bà M ly thân với ông T gần 01 năm nay, yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: Bà M và ông T có 02 con chung là cháu Trần Duy T, sinh ngày 31/7/2012 và cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 03/6/2019. Các con do bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ trước đến nay, vì ông T thường xuyên đi làm xa nhà. Bà M yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Hiện bà M làm công nhân và bán hàng online thu nhập mỗi tháng khoảng 15.000.000 đồng đủ để nuôi dưỡng các con. Bà M không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Trần Công T có ý kiến trình bày trong quá trình tố tụng:

Về hôn nhân: Ông T thống nhất ý kiến như bà M trình bày.

Trong cuộc sống vợ chồng có những va chạm nhỏ nhưng nhìn chung vẫn hạnh phúc. Vợ chồng có những cãi vã nhau, bà M có những lời lẽ thiếu kiềm chế xúc phạm ông. Vì nóng giận nên ông T có đánh bà M một vài cái tát. Sau đó vợ chồng vẫn hòa thuận, hạnh phúc, cùng nuôi dạy con cái. Đến năm 2021 do ông T có quan hệ tình cảm và có con với người phụ nữ khác. Ông T đã thừa nhận mọi sai lầm, cắt đứt quan hệ với người phụ nữ đó và xin bà M tha thứ để vợ chồng chung sống, nuôi dạy các con nhưng bà M không đồng ý. Vì tính chất công việc là công nhân xây dựng, nên ông T thường xuyên phải đi làm xa nhà. Hiện ông T đang làm việc tại công trình ở Tây Ninh, cuối tuần ông T về nhà với vợ con. Tuy nhiên bà M xa cách, chủ động ly thân với ông T, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Tình cảm của ông T đối với bà M vẫn còn, ông T luôn mong muốn vợ chồng hàn gắn nuôi dạy con cái. Do đó ông T không đồng ý ly hôn với bà M.

Về con chung: Ông T và bà M có 02 con chung là cháu Trần Duy T1, sinh ngày 31/7/2012 và cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 03/6/2019. Do ông T thường xuyên đi làm xa nhà nên các con do bà M chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đồng ý ly hôn, do vậy về con chung ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của vợ chồng: Không đồng ý ly hôn, do vậy ông T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà án xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết là ly hôn, tranh chấp nuôi con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Bà M và ông T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 08/02/2012 tại UBND xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk, là hôn nhân hợp pháp.

Bà M và ông T thừa nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021 nguyên nhân là do ông T có quan hệ tình cảm dẫn đến có con với người phụ nữ khác. Bà M xác định không tha thứ và không thể chấp nhận việc ông T ngoại tình. Ông T thừa nhận có hành vi bạo lực đánh bà M khi vợ chồng cãi nhau. Bà M và ông T đã ly thân hơn 01 năm nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T đến tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải với bà M, nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông T không còn quan tâm cuộc hôn nhân.

Đã có căn cứ khẳng định mâu thuẫn giữa bà M và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà M yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ.

Về con chung: Bà M và ông T có 02 con chung là cháu Trần Duy T1, sinh ngày 31/7/2012 và cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 03/6/2019. Cháu D và cháu K do bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà M có việc làm và có thu nhập đủ điều kiện để nuôi con. Do đó chấp nhận yêu cầu của bà M giao cháu D và cháu K cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà M tự nguyện không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà M, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ dân sự chung của vợ chồng: Bà M và ông T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà M phải chịu theo quy định pháp luật.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị M đối với bị đơn ông Trần Công T về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”; bà Trần Thị M được ly hôn với ông Trần Công T.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Duy T1, sinh ngày 31/7/2012 và cháu Trần Hoàng K, sinh ngày 03/6/2019 cho bà Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị M không yêu cầu ông Trần Công T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  3. Bà Trần Thị M và ông Trần Công T đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Ông Trần Công T được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về tài sản chung; quyền, nghĩa vụ dân sự chung của vợ chồng: Đương sự không tranh chấp, Toà án không xem xét giải quyết.
  5. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000042 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Lưu: HS, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị M yêu cầu được ly hôn với ông Trần Công T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger