Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 6 - 2025

“Tranh chấp về Hôn nhân và

gia đình - Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ánh – Bà Hồ Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 121/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 171/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị P, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Võ Văn T, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị P có mặt; anh T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Chị Nguyễn Thị P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T cưới nhau năm 1994, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P ngày 05/9/2006. Vợ chồng sống hạnh phúc được mấy chục năm nhưng thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh T có mối quan hệ với phụ nữ bên ngoài, không lo làm ăn mà còn ăn chơi, bài bạc thiếu nợ. Chị T có trao đổi với anh T, nhưng anh T chứng nào tật nấy, không thay đổi. Vì các con nên chị P nhiều lần cho anh T cơ hội nhưng ngày càng mâu thuẫn và làm cho không khí gia đình ngày càng căng thẳng. Năm 2024, chị P có nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, nhưng anh T năn nỉ hàn gắn để cho nhau cơ hội nên chị P đã rút lại đơn khởi kiện. Nhưng anh T vẫn không thay đổi, chị P nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị tiếp tục nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P có yêu cầu anh T đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh T không đi mà còn nói Tòa án muốn làm gì thì làm, chứ anh T không đến Tòa án.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Võ Đăng K, sinh ngày 23/10/1996, Võ Trạng N, sinh ngày 27/9/2000 và Võ Thị Huỳnh N1, sinh ngày 08/7/2005. Hiện các con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Võ Văn T vắng mặt không có lý do.

* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Không có.

* Các tình tiết vụ án các bên đương sự không thống nhất: Toàn bộ nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị P có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ngoài ra, không có đương sự nào có yêu cầu hay tranh chấp gì khác nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - Ly hôn”.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Tranh chấp về ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do địa chỉ của bị đơn tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về xét xử vắng mặt:

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T cưới nhau năm 1994, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P ngày 05/9/2006, do đó hôn nhân giữa chị P và anh T là tự nguyện và hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét quá trình chung sống: Anh chị sống hạnh phúc được mấy chục năm và có 03 người con chung, nhưng thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh T có mối quan hệ với phụ nữ bên ngoài, không lo làm ăn mà còn ăn chơi, bài bạc thiếu nợ. Chị T có trao đổi với anh T, nhưng anh T chứng nào tật nấy, không thay đổi. Vì các con nên chị P nhiều lần cho anh T cơ hội nhưng ngày càng mâu thuẫn và làm cho không khí gia đình ngày càng căng thẳng. Năm 2024, chị P có nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, nhưng anh T năn nỉ hàn gắn để cho nhau cơ hội nên chị P đã rút lại đơn khởi kiện. Nhưng anh T vẫn không thay đổi, chị P nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị tiếp tục nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị P có yêu cầu anh T đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh T không đi mà còn nói Tòa án muốn làm gì thì làm, chứ anh T không đến Tòa án. Đồng thời, trong khoảng thời gian này anh T cũng không có thiện chí muốn hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với chị P. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã giải thích pháp luật và động viên chị P nên hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với anh T nhưng chị P kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử cho chị được ly hôn với anh T.

Hơn nữa, tại phiên tòa cháu Võ Thị Huỳnh N1 có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho cha mẹ ly hôn, vì hiện nay cha mẹ sống không có hạnh phúc, ly hôn để giải thoát cho nhau.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Võ Văn T tham gia phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa sơ thẩm nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ mà phía chị P giao nộp cho Tòa án. Do đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy việc chị P trình bày là có cơ sở nên Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Có 03 con chung tên Võ Đăng K, sinh ngày 23/10/1996, Võ Trạng N, sinh ngày 27/9/2000 và Võ Thị Huỳnh N1, sinh ngày 08/7/2005. Hiện các con đã trưởng thành, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Chị P trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Chị P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị P.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Võ Văn T.
    • - Về con chung: Có 03 con chung tên Võ Đăng K, sinh ngày 23/10/1996, Võ Trạng N, sinh ngày 27/9/2000 và Võ Thị Huỳnh N1, sinh ngày 08/7/2005. Hiện các con đã trưởng thành, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
    • - Về tài sản chung: Chị P trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
    • - Về nợ chung: Chị P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 001256 ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Như vậy, tiền án phí sơ thẩm chị P đã nộp xong.

  3. Về quyền kháng cáo:

    Chị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - VKS Huyện;
  • - THADS Huyện;
  • - UBND xã Phú Điền;
  • (Giấy CNKH số 106 ngày 05/9/2006);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và VP. (Jét)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI về tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger