Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025.

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Trường.
  2. Bà Nguyễn Thị Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Rung K'Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 100/2025/TLST–HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Bị đơn: Anh Thân Đức H1, sinh năm 1981; HKTT: tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 31, phân trại 3, Trại giam S, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn và bản tự khai ngày 18/3/2025, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Năm 2006 chị và anh H1 xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 31 tháng 8 năm 2006 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84, quyển số 02/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm việc tại tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2020 thì anh H1 phải đi chấp hành án dẫn đến hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không thể hòa hợp. Trong thời gian anh H1 chấp hành án thì chị vẫn đi thăm nuôi thường xuyên, chị nhiều lần mong muốn anh H1 thay đổi, sửa sai tuy nhiên anh H1 không thay đổi. Nay, chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1. Về con chung: chị xác định có 02 con chung là Thân Đức D, sinh ngày 21/3/2007 và Thân Đức N, sinh ngày 30/4/2013. Hiện cháu D đã trên 18 tuổi và phát triển bình thường nên chị không có yêu cầu gì. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu Thân Đức N. Chị không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: chị xác định không có. Đồng thời tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại biên bản lấy lời khai đương sự ngày 25/4/2025, bị đơn anh Thân Đức H1 trình bày: Anh và chị H kết hôn với nhau ngày 31 tháng 8 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, không bị ai ép buộc, không bị lừa dối, có giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng làm ăn, sinh sống tại tổ dân phố Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vợ chồng sống hạnh phúc từ sau khi kết hôn đến khi anh bị bắt thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do anh vi phạm pháp luật. Hiện nay, anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ anh xin ly hôn anh nhất trí. Vợ chồng có con chung Thân Đức Dũng, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2007 phát triển bình thường, đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết và Thân Đức N, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2013. Nay ly hôn anh có nguyện vọng để vợ anh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Thân Đức N. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh. Về tài sản và nợ anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Từ trước tới nay anh và vợ anh không mắc các bệnh làm ảnh hưởng đến nhận thức của anh và vợ anh. Anh bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị bắt ngày 26/4/2019 nên anh đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh. Ngoài ra anh H1 không có ý kiến yêu cầu gì.

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh H1 vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Các đương sự đều vắng mặt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, sự chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị H về việc xin ly hôn với anh Thân Đức H1. Về con chung: Giao con chung là Thân Đức N, sinh ngày 30/4/2013 cho chị Phạm Thị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị Phạm Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị H và bị đơn anh Thân Đức H1 vắng mặt tại phiên tòa và đều có đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận hạnh phúc cho đến khi anh H1 vi phạm pháp luật và bị bắt thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không thông cảm, chia sẻ cho nhau trong cuộc sống. Tại phiên tòa, các đương sự đều vắng mặt. Tuy nhiên, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn, còn anh H1 cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa vợ chồng chị H và anh H1 đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị H và anh H1 được ly hôn là phù hợp.
  3. Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 (Hai) có con chung là Thân Đức D, sinh ngày 21 tháng 3 năm 2007 và Thân Đức N, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2013. Con chung là Thân Đức D phát triển bình thường, đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra để xem xét. Đối với con chung là Thân Đức N thì khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con, anh H1 đồng ý. Cháu N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nên cần xem xét giao con chung là Thân Đức N, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2013 cho chị H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu. Mặt khác hiện anh H1 đang phải chấp hành án phạt tù nên anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
  4. Về tài sản chung: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
  5. Về nợ chung: Chị H xác định không có và các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra để giải quyết.
  6. Về án phí: Nguyên đơn chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị H, xử cho chị Phạm Thị H và anh Thân Đức H1 được ly hôn.
  2. Về con chung:

    Giao con chung là Thân Đức N, sinh ngày 30 tháng 4 năm 2013 cho chị Phạm Thị H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh Thân Đức H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Phạm Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005262 ngày 18/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ – Tòa án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger