TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 – 6 – 2025 “Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Thắng.
2. Bà Phạm Thị Ngọc Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1986; Vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Cao Thủ Đ, sinh năm 1980; Vắng mặt không có lý do.
Cùng nơi cư trú: khu phố L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, ý kiến đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Cao Thủ Đ chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 2005.
Qua thời gian chung sống hạnh phúc thì đến nay vợ chồng nảy sinh bất đồng quan điểm, lối sống. Dù đã cố gắng tìm tiếng nói chung để hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện tại thì chị B và anh Đ đã sống ly thân; chị B xác định không còn tình cảm yêu thương gì đối với anh Đ nên chị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Chị B và anh Đ có hai người con chung tên Cao Gia B1, sinh năm 2006 và Cao Ngọc Mỹ L, sinh ngày 15/03/2012. Hiện nay cháu B1 đã thành niên, chị B không có yêu cầu gì. Khi ly hôn, chị B yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Cao Ngọc Mỹ L cho đến khi thành niên, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh Cao Thủ Đ không tham gia tố tụng và vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai của anh Đ và cũng không tiến hành hòa giải được.
[3]. Các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 01 bản sao có chứng thực Căn cước công dân mang tên chị Nguyễn Thị B; 01 Bản sảo có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 89, Quyển số 01/005, ngày 14/11/2005 của UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Cao Gia B1; 01 bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Cao Ngọc Mỹ L.
Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương thị trấn L về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị B và anh Đ.
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Cao Thủ Đ;
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung tên Cao Ngọc Mỹ L, sinh ngày 15/03/2012 cho đến khi thành niên;
Về án phí: Buộc chị B phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp; buộc anh B1 nộp 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các đương sự trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Cao Thủ Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp
[2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Trong vụ án chỉ có yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B, yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con; ngoài ra không có yêu cầu nào khác của các đương sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
Tranh chấp dân sự quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị B, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào Bản sảo có chứng thực Giấy chứng nhận kết hôn số 89, Quyển số 01/005, ngày 14/11/2005 của UBND thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận mà nguyên đơn chị Nguyễn Thị B đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị B; có đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị B và anh Cao Thủ Đ tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh Đ là hợp pháp. Vì vậy, chị B có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B xác định: Qua thời gian chung sống hạnh phúc thì đến nay, vợ chồng nảy sinh bất đồng quan điểm, vợ cồng đã cố gắng tìm tiếng nói chung để hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện tại thì chị B và anh Đ đã sống ly thân. Hiện nay, chị B xác định không còn tình cảm hay yêu thương gì đối với anh Đ nên chị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ.
Tại các biên bản xác minh địa phương thị trấn L cũng đã cung cấp thông tin: Sau khi kết hôn chị B và anh Đ chung sống và có nhà riêng tại khu phố L, được một thời gian thì cả hai xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cải vã, xích mích nhau. Sau đó thì cả hai ly thân cho đến nay. Ngoài ra, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã ra thông báo hòa giải đoàn tụ nhưng chị B cương quyết yêu cầu giải quyết ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ; anh Đ vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở xác định được: Vợ chồng chị B và anh Đ đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị B yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[3.2]. Về con chung:
Căn cứ bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Cao Gia B1; bản sao có chứng thực Giấy khai sinh mang tên Cao Ngọc Mỹ L mà nguyên đơn chị Nguyễn Thị B đã cung cấp; căn cứ lời khai phù hợp của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B; có đủ cơ sở xác định được: Cao Gia B1, sinh năm 2006 và Cao Ngọc Mỹ L, sinh ngày 15/03/2012. Hiện nay cháu B1 đã thành niên, chị B không có yêu cầu gì. Khi ly hôn, chị B yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Cao Ngọc Mỹ L cho đến khi thành niên, chị B không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.
Xét thấy: Yêu cầu nuôi con của chị B là hoàn toàn chính đáng; cháu L có nguyện vọng được ở với chị B và đang do chị B nuôi dưỡng ổn định; Quá trình tố tụng anh Cao Thủ Đ đều vắng mặt không có lý do, không tham gia tố tụng để thực hiện quyền, trình bày ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu cầu của mình về việc nuôi con. Nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt đối với con chưa thành niên cần chấp nhận yêu cầu của chị B, giao cho chị Nguyễn Thị B có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Cao Ngọc Mỹ L, sinh ngày 15/03/2012 cho đến khi thành niên; anh Cao Thủ Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Chị B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84, 106, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B.
[1]. Về việc ly hôn: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Cao Thủ Đ.
[2]. Về việc nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị B có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Cao Ngọc Mỹ L, sinh ngày 15/03/2012 cho đến khi thành niên. Anh Cao Thủ Đ không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình.
[3]. Về án phí:
- Buộc chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001560 ngày 04/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị Nguyễn Thị B đã nộp đủ tiền án phí.
[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Trí |
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
