Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/6/2025

V/v: “tranh chấp ly hôn, nuôi con

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng

Bà Nguyễn Thị Bé Em

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham

gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 139/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 159A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Bích T, sinh năm 2001;

Cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ liên hệ: S, đường số H, khu dân cư T, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Phạm Hữu L, sinh năm 1996;

Cư trú: số F, ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

(Bà T có đề nghị giải quyết vắng mặt; ông L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/3/2025, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Bích T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Phạm Hữu L tiến hành đăng ký kết hôn vào ngày 27/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại nhà bên chồng thuộc xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Bà nhận thấy giữa bà và ông L không thể tiếp tục sống cùng với nhau, cả hai không còn yêu thương, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, trong thời gian ly thân thì bà và con chung sinh sống tại Long An còn ông L sinh sống tại Bến Tre. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông L nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L.

Về con chung: bà và ông L có với nhau 01 con chung tên Phạm Trâm A, sinh ngày 02/9/2020. Hiện nay, con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Do bận công việc, bà T có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án. Bà T không còn yêu cầu nào khác.

Bị đơn ông Phạm Hữu L:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Phạm Hữu L, tuy nhiên ông L vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T; Về con chung, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, bà T khai không có nên không xem xét; Về nợ chung, bà T khai không có nên không xem xét; Án phí thực hiện theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: căn cứ đơn khởi kiện của bà Trương Thị Bích T đề ngày 28/3/2025 (BL04) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo các điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Phạm Hữu L có nơi cư trú tại xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: nguyên đơn bà Trương Thị Bích T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt (BL26); bị đơn ông Phạm Hữu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông L vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông L đăng ký kết hôn vào ngày 27/3/2020 tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Việc đăng ký kết hôn giữa bà T và ông L là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, bà T yêu cầu được ly hôn với ông L do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, bà và ông L đã ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, thời gian ly thân mạnh ai nấy sống, bà không còn tình cảm và không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống với ông L. Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông L nhiều lần đến Tòa án nhằm tạo điều kiện cho ông và bà T hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông L vắng mặt cũng như không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu ly hôn của bà T, như vậy ông L có ý thức bỏ mặt việc bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn và không có ý định hòa giải đoàn tụ. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số: 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: bà T và ông L có với nhau 01 con chung tên Phạm Trâm A, sinh ngày 02/9/2020. Xét thấy hiện nay con chung đang sống chung với bà T; mặt khác, phía ông L cũng không ý kiến phản đối về việc bà T yêu cầu trực tiếp nuôi con chung. Từ các phân tích trên, đối chiếu quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, cần thiết giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về mức cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: bà T khai không có nên không xem xét.

[5] Các vấn đề khác: bà T khai không có nợ chung nên không xem xét.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7]Về án phí: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
  • - Khoản 3 Điều 4, khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Bích T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Phạm Hữu L, cụ thể như sau:
    1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trương Thị Bích T được ly hôn với ông Phạm Hữu L.
    2. Về con chung:

      Giao cháu Phạm Trâm A, sinh ngày 02/9/2020 cho bà Trương Thị Bích T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

      Về mức cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trương Thị Bích T tạm thời không yêu cầu ông Phạm Hữu L cấp dưỡng nuôi con.

      Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung: bà Trương Thị Bích T khai không có nên không xem xét.
    4. Các vấn đề khác: bà Trương Thị Bích T khai không có nợ chung nên không xem xét.
  2. Án phí: bà Trương Thị Bích T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011376 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre (đã nộp xong).
  3. Về quyền kháng cáo: bà Trương Thị Bích T và ông Phạm Hữu L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Bến Tre (1b);
  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - CCTHADS thành phố Bến Tre (1b);
  • - UBND xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre -
  • số 24 ngày 27/3/2020 (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu hồ sơ, VP (3b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Thanh Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger