|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/4/2025 V/v: Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1982; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã T, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Chị Nguyễn Huyền T1, sinh năm: 1990; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: thôn L, xã T, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Đình T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Huyền T1 kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 21/12/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Năm 2014 anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, đến năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ không chung thủy, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Cuối năm 2018 chị T1 đi xuất khẩu lao động tại Thái Lan sau đó thì đi xuất khẩu lao động tại Hoa Kỳ. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Đình T đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Nguyễn Huyền T1..
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thảo L, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 14/02/2017. Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, không đề nghị chị T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, bị đơn chị Nguyễn Huyền T1 đang lao động tự do tại Hoa Kỳ, không có địa chỉ cụ thể. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương cũng như thông qua người thân của chị T1 nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của chị T1. Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ trong ba ngày liên tiếp 14, 15, 16/02/2025 để thông báo cho chị Nguyễn Huyền T1 có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn được thông báo, chị T1 không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, Toà án không thu thập được ý kiến cũng như lời khai của chị T1, không tiến hành hoà giải vụ án được.
Tại Công văn cung cấp thông tin tình trạng hôn nhân số 10/UBND-TP ngày 03/4/2025, Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cung cấp thông tin như sau: Vợ chồng anh Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/8/1982 và chị Nguyễn Huyền T1, sinh ngày 12/10/1990 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 21/12/2011. Quá trình chung sống tại địa phương, chính quyền địa phương không nắm được cũng như chưa nhận được báo cáo, tờ trình gì của gia đình và vợ chồng anh T, chị T1 liên quan đến mâu thuẫn, gia đình.
Tại các Biên bản xác minh với bà Nguyễn Thị H1 (mẹ đẻ của chị Nguyễn Huyền T1), bà H1 có nội dung trình bày: Việc vợ chồng anh T, chị T1 giải quyết việc ly hôn thì gia đình có biết. Hiện nay chị T1 đang lao động tại Hoa Kỳ, vẫn thường liên lạc với gia đình, tuy nhiên gia đình không biết địa chỉ cụ thể của chị T1 nên không cung cấp cho Tòa án được. Gia đình tự nguyện nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo đầy đủ lại kịp thời cho chị T1 được biết.
Tại các biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh:
Cháu Nguyễn Thảo L có nội dung trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố vì hiện nay mẹ đang ở nước ngoài; Cháu Nguyễn Bảo A có nội dung trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 217, Điều 464, 469 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10, Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao; đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Đình T; xử cho anh Nguyễn Đình T được ly hôn với chị Nguyễn Huyền T1.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thảo L, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 14/02/2017 cho anh Nguyễn Đình T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Về nợ chung, tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Buộc nguyên đơn anh Nguyễn Đình T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Huyền T1 đăng ký kết hôn ngày 21/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh. Nay anh Nguyễn Đình T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Huyền T1. Tại công văn cung cấp thông tin danh sách khách xuất nhập cảnh số 1171/QLXNC-Đ1 ngày 19/11/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: Chị Nguyễn Huyền T1, sinh ngày 12/10/1990; số Hộ chiếu: C7253796; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh ngày 24/4/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn anh Nguyễn Đình T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Huyền T1 đang lao động ở nước ngoài, vắng mặt không có lý do; qua xác minh, người thân của chị T1 không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị T1 ở nước ngoài nên thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Mặc dù đã được Tòa án thông báo làm việc, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị T1 không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh T, chị T1 theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Huyền T1 tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2011, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của anh T và chị T1 là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại địa phương. Năm 2014 anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, đến năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ không chung thủy, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Cuối năm 2018 chị T1 đi xuất khẩu lao động tại Thái Lan sau đó thì đi xuất khẩu lao động tại Hoa Kỳ. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Nguyễn Đình T đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Nguyễn Huyền T1. Bị đơn chị Nguyễn Huyền T1 đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt các thông báo, quyết định và đăng tin thông báo theo quy định của pháp luật nhưng không có mặt tại Tòa án để giải quyết, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án.
Xét thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc anh T yêu cầu được ly hôn chị T1 là có căn cứ và phù hợp. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh T, cho anh T và chị T1 ly hôn.
[2.2] Về con chung:
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thảo L, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 14/02/2017. Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung.
Làm việc với Tòa án, cháu Nguyễn Thảo L trình bày muốn được ở với bố, cháu Nguyễn Bảo A trình bày muốn được ở với mẹ. Xét thấy trách nhiệm và quyền nuôi dưỡng con chung thuộc về cha mẹ. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên theo quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hiện tại anh T đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam, đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung để đảm bảo sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho cháu L và cháu Bảo A; Còn chị T1 vẫn đang lao động tại Hoa Kỳ, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bên cạnh đó, quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị T1 không hợp tác, không có mặt để làm việc với Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thảo L, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 14/02/2017 cho anh Nguyễn Đình T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên. Chị T1 không phải nộp tiền cấp dưỡng nuôi con.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung:
Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T. Cho anh Nguyễn Đình T và chị Nguyễn Huyền T1 ly hôn.
-
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thảo L, sinh ngày 23/11/2011 và cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 14/02/2017 cho anh Nguyễn Đình T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Chị Nguyễn Huyền T1 có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Nguyễn Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000072 ngày 04/10/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Hoàng Ngọc Tùng |
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tùng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử ly hôn
