TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 60/2025/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 02 năm 2025 V/v: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Phong, bà Nguyễn Thị Kim Uyên.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 384/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1204/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lý Thị P, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Lưu Văn T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ B, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà P có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu và chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà P trình bày:
Bà P và ông T tự tìm hiểu, đi đến hôn nhân vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 01 tháng 03 năm 2011. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà P và ông T có 02 con chung tên Lưu Lý Minh T1, sinh ngày 24/07/2010 và Lưu Lý Minh T2, sinh ngày 19/02/2012 hiện các con chung đang sống cùng ông T. Sau khi ly hôn, bà P đồng ý giao các con chung cho ông T tiếp tục nuôi dạy, bà P không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ các đương sự có mặt không bổ sung chứng cứ mới.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
- - Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào các Điều 56,81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị P1 được ly hôn với ông Lưu Văn T; ông Lưu Văn T được tiếp tục nuôi dạy các con chung Lưu Lý Minh T1, sinh ngày 24/07/2010 và Lưu Lý Minh T2, sinh ngày 19/02/2012; bà P1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Bà Lý Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lưu Văn T. Đồng thời, ông T cư trú trên địa bàn huyện A. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Lý Thị P vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt; bị đơn ông L được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn như theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị P chung sống với nhau từ năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 22/2011 ngày 01/3/2011 là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tòa án cũng ghi nhận ý kiến ông Lưu Văn B là cha ruột của Lưu Văn T có nhận thay văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo lại cho ông T biết việc bà P khởi kiện ly hôn với ông T nhưng ông T vẫn không tham gia phiên hòa giải, phiên tòa, không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ những căn cứ nêu trên, nhận thấy mâu thuẫn gia đình giữa bà P và ông T là trầm trọng, đã không còn chung sống với nhau, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P về việc ly hôn với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Bà P, ông T 02 con chung tên Lưu Lý Minh T1, sinh ngày 24/07/2010 và Lưu Lý Minh T2, sinh ngày 19/02/2012 hiện các con chung đang sống cùng ông T. Sau khi ly hôn, bà P đồng ý giao các con chung cho ông T tiếp tục nuôi dạy, bà P không cấp dưỡng nuôi con.
Từ khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung đến nay, các cháu Lưu Lý Minh T1 và Lưu Lý Minh T2 sống cùng với ông T, được gia đình ông T chăm sóc và cho đi học. Bên cạnh đó, các cháu Lưu Lý Minh T1 và Lưu Lý Minh T2 có nguyện vọng được sống cùng ông T. Đồng thời, tại biên bản xác minh những người thân cho biết ông T chăm sóc các con đầy đủ về vật chất cả tinh thần. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý bình thường và điều kiện sống của con chung Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, giao các cháu Lưu Lý Minh T1 và Lưu Lý Minh T2 cho ông T tiếp tục nuôi dạy; bà P không cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Lưu Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Lý Thị P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp về việc chia tài sản chung, giải quyết các khoản nợ chung thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lý Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà P đã nộp. Bà P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị P.
Về hôn nhân: Bà Lý Thị P được ly hôn với ông Lưu Văn T.
Về con chung: Giao các con chung tên Lưu Lý Minh T1, sinh ngày 24/07/2010 và Lưu Lý Minh T2, sinh ngày 19/02/2012 cho ông Lưu Văn T được tiếp tục nuôi dạy, bà Lý Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông T cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Bà Lý Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010168 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (đã nộp đủ). Ông Lưu Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thanh Hoàng |
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 60. vụ án ly hôn giữa bà Phượng với ông Triệt.
