Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10-6-2025

V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hoàng Thị Thu Hiền

- Bà Hoàng Thị Len

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2025/QĐ-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thu P, sinh năm 1986

Đăng ký HKTT: Thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ hiện nay: 3-10-1 K, N-cho, Yoichi-gun, H-ken, Nhật Bản.

- Bị đơn: Anh Đỗ Quang V, sinh năm 1981

Đăng ký HKTT: Thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan.

(Chị P có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; anh V vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/12/2024, Bản tự khai đề ngày 23/12/2024; Nguyên đơn - chị Phan Thị Thu P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Quang V đã đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/9/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sinh sống tại thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình và chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng càng về sau lại càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Vì điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2017, anh V đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến tháng 5/2019, chị cũng đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Kể từ khi sang Nhật Bản, mâu thuẫn vợ chồng chị ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, bất đồng về việc chăm sóc con cái, chi tiêu trong gia đình và cách nhìn nhận cuộc sống của hai bên không phù hợp với nhau. Chính vì cuộc sống xa cách nên vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cũng như không nói chuyện với nhau nhiều nữa và cũng không còn giữ liên lạc. Mặc dù hai bên đã cố gắng để hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp nhưng mục đích hôn nhân không thể cứu vãn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Đỗ Quang V.

- Về quan hệ con chung: Chị và anh Đỗ Quang V có 01 con chung là cháu Đỗ Phương L, sinh ngày 02/7/2011. Hiện nay cháu L đang ở cùng với bà nội là bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954, tại thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, chị đề nghị giao cháu L cho anh Đỗ Quang V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trước khi anh V về Việt Nam thì đề nghị Tòa án tạm giao cháu L cho bà nội là bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Đỗ Quang V không có tài sản chung, không có nợ chung. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Chị có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.

* Bị đơn anh Đỗ Quang V không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thu P.

* Tòa án tiến hành làm việc với ông Đỗ Duy C, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình là bố đẻ của anh Đỗ Quang V, ông C trình bày: Anh V đang ở Đài Loan, anh V có liên lạc về và biết chị P xin ly hôn, anh V không có ý kiến gì và ông không biết địa chỉ cụ thể của anh V tại Đài Loan, ông đang nuôi dưỡng con của anh V và chị P là cháu Đỗ Phương L, ông không liên quan gì đến việc chị P xin ly hôn anh V. Ông không ký các tài liệu và không nhận văn bản của Tòa án. Ông không ký biên bản làm việc.

* Biên bản ghi nhận ý kiến và nguyện vọng của cháu Đỗ Phương L thể hiện: Cháu là con của mẹ Phan Thị Thu P và bố Đỗ Quang V, bố mẹ cháu đang đi lao động ở nước ngoài, cháu đang ở với ông bà nội. Bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội. Ông bà chăm sóc cháu rất chu đáo, cháu hàng năm đều đạt học sinh giỏi.

* Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình thể hiện: Anh Đỗ Quang V, sinh ngày 02/11/1981, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình. Hiện nay anh V không có mặt tại địa phương. Anh V có làm thủ tục xác nhận của Ủy ban nhân dân xã để đi lao động ở nước ngoài (Đài Loan), nay anh V đang ở Đài Loan hay đã về Việt Nam, Ủy ban nhân dân xã không nắm bắt được. Anh Đỗ Quang V và chị Phan Thị Thu P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình ngày 16/9/2010. Quá trình chung sống anh V, chị P có mâu thuẫn vợ chồng hay không, Ủy ban nhân dân xã không nắm bắt được, Ủy ban nhân dân xã và địa phương không giải quyết mâu thuẫn vợ chồng giữa anh V và chị P. Anh V, chị P quen biết nhau ở nước ngoài, kết hôn mới về Việt Nam và không thường xuyên ở địa phương nên về quan hệ vợ chồng anh V có mâu thuẫn không, Ủy ban nhân dân xã không nắm bắt được. Anh V, chị P có 01 con chung là cháu Đỗ Phương L, sinh ngày 02/7/2011, hiện nay cháu L đang ở với ông bà nội là ông Đỗ Duy C, bà Nguyễn Thị H1 và cháu L đang học tại trường tiểu học, trung học cơ sở Bùi Hữu D, việc giải quyết con chung giữa anh V, chị P đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh V, chị P có tài sản chung hay không đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị Thu P được ly hôn anh Đỗ Quang V. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Phương L, sinh ngày 02/7/2011 cho anh Đỗ Quang V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Phan Thị Thu P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 6/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Phan Thị Thu P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị Thu P và bị đơn anh Đỗ Quang V ở nước ngoài, căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị P, anh V.

* Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phan Thị Thu P và anh Đỗ Quang V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/9/2010 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình được xác định là hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Lời khai của chị P thể hiện mâu thuẫn giữa chị P và anh V là có thật, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù anh V biết chị P xin ly hôn nhưng anh V không có quan điểm trình bày gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và không tìm cách hàn gắn, đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh V đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị P và anh V ly hôn là phù hợp.
  2. Về con chung: Chị P và anh V có 01 con chung là cháu Đỗ Phương L, sinh ngày 02/7/2011, hiện nay cháu L đang ở cùng ông bà nội là ông Đỗ Duy C, bà Nguyễn Thị H1 và được ông bà chăm sóc rất tốt, cháu đang theo học tại trường tiểu học V1, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình, nhiều năm liền đạt học sinh giỏi, cháu L có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội. Để ổn định đời sống và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng, chị P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật là phù hợp. Chị P và anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Thu P và anh Đỗ Quang V không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phan Thị Thu P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị Thu P được ly hôn anh Đỗ Quang V.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Phương L, sinh ngày 02/7/2011 cho anh Đỗ Quang V trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Phan Thị Thu P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 6/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Hai bên có quyền và nghĩa vụ chăm sóc con chung.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phan Thị Thu P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị P nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000405 ngày 23 tháng 12 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị P còn phải chịu 300.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Phan Thị Thu P, anh Đỗ Quang V. Chị P, anh V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Chí Hòa, h. Hưng Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger