|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06/06/2025
Về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái
- - Các Hội thẩm Nhân dân:
- Ông Võ Tự Trị
- Bà Bùi Thanh Hà
- - Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án Nhân dân quận Ô Môn.
Ngày 06 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 71/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 03 năm 2025 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 04 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Hồ Thị Trúc L, sinh năm 2000 (có mặt)
- Địa chỉ: KV T, phường T, q. O, Tp Cần Thơ
- - Bị đơn: ông Hứa Minh N, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- Địa chỉ: KV T, phường T, q. O, Tp Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện ngày 30/12/2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Thị Trúc L trình bày: Giữa bà và ông Hứa Minh N tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2018 có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận Ô, Tp Cần Thơ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thường xuyên dẫn đến cự cãi, bất hòa về quan điểm, tính tình và lối sống khác biệt nhau. Nay nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, không còn tình cảm với ông N nên bà yêu cầu được ly hôn. Về nợ chung và tài sản chung là không có. Về con chung có 02 con chung là cháu Hứa Hồ Dăng D, sinh năm 2019 và Hứa Hồ Băng N, sinh năm 2021, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
* Bị đơn ông Hứa Minh N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là ly hôn với ông Hứa Minh N. Về nợ chung và tài sản chung là không có. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn yêu thương, quan tâm lẫn nhau, ông N không có việc làm và cũng không chí thú làm ăn, chơi cờ bạc hay gây nợ nần. Hiện cả hai đã sống ly thân, không ai hỏi thăm đến ai, không liên hệ với nhau. Nên nay bà xác định không còn tình cảm với ông N nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung có 02 con chung là cháu Hứa Hồ Dăng D, sinh năm 2019 và Hứa Hồ Băng N, sinh năm 2021. Hiện 02 cháu đang học mầm non tại phường Thới Hòa, các chí phí học tập của con là do bà đóng tiền, hiện tại bà có công việc ổn định, có thu nhập nên yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng để cho ông N có trách nhiệm với các con. Bà tự nguyện chịu án phí của vụ án.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật bên tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hứa Minh N. Giữa bà Hồ Thị Trúc L và ông Hứa Minh N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình nên xem là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Phước Thới, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Theo lời trình bày của bà Hồ Thị Trúc L thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn tình cảm, không còn thương yêu lẫn nhau.
Hội đồng xét xử nhận thấy theo lời trình bày của bà L vợ chồng kết hôn năm 2018, gần đây thì không còn sống chung với nhau (ly thân), từ khi ly thân đến nay thì không ai quan tâm đến ai, không gặp nhau thăm hỏi cho thấy vợ chồng có sự bỏ mặc nhau, không còn thương yêu và không có tình nghĩa vợ chồng. Ông N mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án có ý kiến thể hiện ông N bỏ mặc cuộc hôn nhân này, thiếu trách nhiệm và nghĩa vụ trong mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng.
Vì vậy, mối quan hệ hôn nhân của bà L và ông N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
[2.2] Về con chung: Đối với yêu cầu được nuôi 02 con chung là cháu Hứa Hồ Dăng D (nữ), sinh năm 2019 và Hứa Hồ Băng N (nữ), sinh năm 2021 của bà L, Hội đồng xét xử nhận thấy việc chi phí học tập của 02 cháu là do bà L thực hiện, các cháu D, cháu N là nữ nên cần có sự chăm sóc của người mẹ và bà L chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu sẽ phù hợp hơn về tâm sinh lý cho các cháu. Đồng thời, các cháu đang theo học mầm non tại phường Thới Hòa, bà L cũng đang sinh sống tại phường Thới Hòa, đồng thời bà L có việc làm ổn định. Do đó, việc giao các con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng không là ảnh hưởng, xáo trộn đến đời sống, học tập của các cháu và đảm bảo không có sự chia cách giữa cháu D với cháu N nên chấp nhận yêu cầu của bà L.
Về cấp dưỡng: Nhận thấy bà L yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi 02 con chung nhằm để cho ông N có trách nhiệm với các con chung là yêu cầu chính đáng. Mặc dù mức cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức 1.000.000 đồng/cháu/tháng của bà L yêu cầu là thấp so với nhu cầu thực tế của 02 cháu ở địa phương cũng như theo quy định, tuy nhiên đây là quyền tự định đoạt của bà L nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Về phương thức cấp dưỡng, Hội đồng xét xử nhận thấy cần buộc ông N cấp dưỡng theo phương thức hàng tháng sẽ phù hợp với tình hình kinh tế của ông N cũng như tạo sự gắn kết giữa cha với các con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung và con chung: Nguyên đơn trình bày không có nên Toà án không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
[3] Về án phí: Áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn bà Hồ Thị Trúc L tự nguyệ chịu theo quy định của pháp luật về án phí ly hôn nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điệu 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Trúc L.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Trúc L ly hôn với ông Hứa Minh N.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự cho rằng không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Hứa Hồ Dăng D (nữ), sinh năm 2019 và Hứa Hồ Băng N (nữ), sinh năm 2021 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc ông N cấp dưỡng nuôi con chung là cháu D, cháu N, mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 06/06/2025.
- Ông Hứa Minh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- - Về án phí hôn nhân gia đình và cấp dưỡng sơ thẩm: Bà Hồ Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng, chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004892 ngày 27/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, TP. Cần Thơ thành án phí. Bà L phải nộp thêm 300.000 đồng án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định) để yêu cầu Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thanh Thái |
Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
