Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒA BÌNH

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST

Ngày 05 tháng 6 năm 2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Huỳnh Tài Em

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trương Thanh D, sinh năm 1997
  2. Địa chỉ: Ấp C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

  3. Bị đơn: Chị Lê Mai A, sinh năm 1997
  4. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

    (Anh D1 có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Mai A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/3/2025 và các lời khai trong quá trình tổ tụng tại Tòa án nguyên đơn anh Trương Thanh D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Duy và chị Lê Mai A quen biết trên tinh thần tự nguyện và chung sống như vợ chồng từ năm 2022 tại ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu ngày 03/7/2023. Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, đến năm 2024 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nên đã ly thân với nhau từ năm 2024 đến nay, do đó không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân. Nay anh D nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với chị Mai A.

Về con chung: Anh D1 và chị Mai A có 01 con chung tên Trương Tú A1, sinh ngày 22/7/2023 hiện đang sống với chị Mai A. Sau khi ly hôn anh D1 tự nguyện giao cháu A1 cho chị Mai A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng sẽ tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Lê Mai A, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Mai A theo quy định, nhưng chị Mai A không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho chị Mai A; chị Mai A cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; chị Mai A đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ, nhưng không có mặt tại Tòa án nên không có lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

  • + Về hôn nhân: Xét thấy, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Thanh D, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D đối với chị Mai A.
  • + Về con chung: Giao cháu Trương Tú A1, sinh ngày 22/7/2023 cho chị Mai A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Duy yêu cầu ly hôn với chị Mai A, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Mai A cư trú tại ấp T, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Duy có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, chị Mai A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D, chị Mai A.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Duy và chị Mai A tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào 2022 tại ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu ngày 03/7/2023 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Anh Duy xác định cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, nên chị cương quyết yêu cầu ly hôn với chị Mai A. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho chị Mai A, nhưng chị Mai A không quan tâm, quá trình giải quyết vụ án chị Mai A không lần nào đến Tòa án và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh D. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và cùng nhau chăm sóc gia đình, nhưng nay anh D cương quyết xin ly hôn với chị Mai A, mà chị Mai A không có thiện chí hòa giải cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng, chứng tỏ sự mâu thuẫn, rạn nứt trong quan hệ hôn nhân của anh chị không có khả năng hàn gắn lại được. Mặt khác, hôn nhân được duy trì bền vững lâu dài và hạnh phúc là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, anh D yêu cầu được ly hôn và xác định không thể tiếp tục chung sống với chị Mai A, thì việc chung sống không được tự nguyện cũng sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được.

Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh D, cho anh D được ly hôn với chị Mai A.

[2] Về con chung: Quá trình chung sống anh D và chị Mai A có 01 con chung tên Trương Tú A1, sinh ngày 22/7/2023 hiện đang sống với chị Mai A. Sau khi ly hôn anh D tự nguyên giao con chung cho chị Mai A tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy, cháu A1 chưa đủ 07 tuổi, hiện nay cháu A1 đang sống cùng chị Mai A. Anh D1 tự nguyên giao con chung cho chị Mai A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chị Mai A không có ý kiến gì về vấn đề này. Do đó để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm sinh lý cho cháu A1 trong việc ăn uống, sinh hoạt và học tập, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh D1 giao cháu A1 cho chị Mai A tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Từ những phân tích trên, có căn cứ ghi nhận sự tự nguyện của anh D1, giao cháu Trương Tú A1, sinh ngày 22/7/2023 cho chị Mai A tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Duy có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn anh Trương Thanh D phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng

dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Từ các phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 53; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trương Thanh D đối với chị Lê Mai A. Xử cho anh Trương Thanh D được ly hôn với chị Lê Mai A.
  2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trương Thanh D, giao cháu Trương Tú A1, sinh ngày 22/7/2023 cho chị Lê Mai A tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trương Thanh D có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được quyền cản trở.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Anh Trương Thanh D phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh D1 đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006060 ngày 02/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình được chuyển thu án phí.

Án xử công khai, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Hòa Bình;
  • - CCTHADS huyện Hòa Bình;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 60/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh D yêu cầu ly hôn với chị A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger