|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:60/2025/HNGĐ - ST Ngày: 04/12/2025 “V/v ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Vân; Ông Lê Công Nhận.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L sinh năm 1990; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02/8/2022; ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân L1, sinh năm 1986; Căn cước công dân số: [...]; ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng.
- + Người làm chứng:
- - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961
- Địa chỉ: Xóm C, thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
- - Bà Đỗ Thị L2, sinh năm 1969
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Vũ Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Xuân L1 được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 24/12/2012 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã H, thành phố Hải Phòng). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Anh L1 đi làm nhưng không quan tâm, chăm lo cho gia đình vợ con. Hai bên gia đình cũng nhiều lần động viên, khuyên bảo nhưng anh L1 không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Chị đã ra thuê trọ ở từ tháng 10/2023 đến nay, vợ chồng sống ly thân từ đó, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh L1 để chị ổn định cuộc sống.
- Về quan hệ con chung: Chị L xác định chị và anh L1 có 02 con chung là Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017. Hiện nay hai con đang ở với chị L. Chị L xin được nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi trưởng thành và tự nguyện không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Nguyễn Xuân L1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn anh L1 xác định như chị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Hai bên gia đình cũng nhiều lần động viên, khuyên bảo vợ chồng nhưng cả hai đều không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Chị L đã ra thuê trọ để ở từ tháng 10/2023, còn anh L1 làm nghề tự do và cũng thuê nhà trọ ở gần chỗ làm cho tiện công việc. Nay chị L làm đơn xin ly hôn anh L1 xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, nên đồng ý ly hôn chị L.
- Về quan hệ con chung: Anh L1 và chị L có 02 con chung là Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017, hiện đang ở với chị L. Anh L1 đồng ý để chị L nuôi cả hai con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Anh L1 xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người làm chứng bà Đỗ Thị L2 (mẹ đẻ chị L) trình bày:
Bà là mẹ đẻ chị L và là mẹ vợ của anh L1. Chị L, anh L1 kết hôn với nhau vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh L1 không có trách nhiệm với vợ con, đi làm nhưng không đưa tiền cho chị L để chi phí sinh hoạt gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Hai bên gia đình cũng nhiều lần động viên, khuyên bảo vợ chồng anh L1 chị L, nhưng anh L1 không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn nên chị L đã thuê trọ ở từ tháng 10/2023. Từ khi sống ly thân anh L1 không đến tìm chị L về, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, kinh tế cũng riêng biệt. Cuộc sống của vợ chồng chị L và anh L1 không có hạnh phúc. Nay chị L làm đơn xin ly hôn anh L1 là cha mẹ bà không muốn các con phải ly hôn, việc quyết định ly hôn hay về ở với nhau là do chị L, anh L1 tự quyết định.
Quá trình chung sống chị L, anh L1 có 02 con chung là Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017, hiện đang ở với chị L. Chị L, anh L1 ly hôn bà đề nghị Tòa án giao cả hai cháu cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu chị L được nuôi hai con gia đình bà sẽ hỗ trợ mẹ con chị L về chỗ ở, việc học tập của hai cháu, cũng như việc sinh hoạt hàng ngày. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị L và anh L1 không có tải sản chung, nợ chung và công sức đóng góp cho gia đình hai bên.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ anh L1) trình bày:
Bà là mẹ đẻ anh L1, mẹ chồng chị L. Sau khi kết hôn vợ chồng chị L, anh L1 chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh L1 đi làm nhưng không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình vợ con, không đưa tiền cho chị L để chi tiêu sinh hoạt, đóng học cho các con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Chị L đã bỏ ra ngoài thuê nhà trọ ở khoảng 2 - 3 năm nay không chung sống cùng anh L1. Chị L làm đơn xin ly hôn anh L1 bà mong muốn chị L rút đơn về đoàn tụ nuôi dạy con chung, trường hợp chị L kiên quyết xin ly hôn bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống chị L, anh L1 có 02 con chung là Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017, hiện đang ở với chị L. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị L và anh L1 không có tải sản chung, nợ chung và công sức đóng góp cho gia đình hai bên.
Anh L1 hiện đi làm công nhân thỉnh thoảng vẫn về nhà, các thông báo, giấy triệu tập của Tòa án bà nhận thay anh L1 bà đã gọi điện thông báo cho anh L1 và nhờ cháu trong họ giao tận tay cho anh L1.
Xác minh với ông Đỗ Xuân B - trưởng thôn Đông Phan, xã H trình bày: Chị L và anh L1 là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chung sống qua phản ánh của gia đình khu nắm dược anh L1 đi làm nhưng không có trách nhiệm với gia đình, để mặc chị L nuôi dạy các con nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Chị L đã không chung sống cùng anh L1 từ năm 2023. Nay chị L làm đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà nguyên đơn chị L, bị đơn anh L1 có đơn xin xét xử vắng mặt giữ nguyên quan điểm và ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 -12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Vũ Thị L ly hôn anh Nguyễn Xuân L1; Về quan hệ con chung: Giao cho chị Vũ Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017 đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh L1 được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết; Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Xuân L1 đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại Xóm C, thôn Đ, xã H, thành phố Hải Phòng nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 8 - Hải Phòng.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị L, bị đơn anh L1 vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai trực tiếp với Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Xuân L1 kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã H, thành phố Hải Phòng) là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh L1 đi làm nhưng không quan tâm đến gia đình vợ con. Từ khoảng tháng 10 năm 2023 đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Chị L xin ly hôn, thông qua lời khai anh L1 đồng ý tuy nhiên không đến Tòa án tham gia phiên tòa.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L, anh L1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử chị Vũ Thị L ly hôn anh Nguyễn Xuân L1 là phù hợp quy định pháp luật để hai bên ổn định cuộc sống.
[2.2] Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị L và anh L1 có 02 con chung là Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017. Hiện nay hai con đang ở với chị L. Quan điểm của chị L xin nhận nuôi cả hai con và tự nguyện không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh L1 nhất trí để chị L nuôi cả 02 con.
Xét thấy: Cháu Nguyễn Xuân P và Nguyễn Xuân P1 hiện đã trên bảy tuổi và có quan điểm xin ở với mẹ. Chị L hiện làm tại công nhân tại Công ty TNHH S thu nhập bình quân khoảng 15.000.000đ/tháng, đủ khả năng nuôi cả hai con. Do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017, cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh L1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình: Chị L và anh L1 đều xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với hai bên gia đình nên không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L. Xử Chị Vũ Thị L ly hôn anh Nguyễn Xuân L1.
-
Về quan hệ con chung: Giao cho chị Vũ Thị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung là Nguyễn Xuân P sinh ngày 21/5/2014 và Nguyễn Xuân P1, sinh ngày 01/12/2017 đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu số 0003574 ngày 13/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Hải Phòng. Chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu |
5
Bản án số 60/2025/HNGĐ - ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 60/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Linh xin ly hôn anh Long
