TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2025/HC-ST Ngày: 02-4-2025 V/v khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai | |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Tám;
- Bà Lê Thị Hằng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Trí – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 245/2024/TLST-HC ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HC ngày 06 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Võ Thị B, sinh năm 1950; vắng mặt
Địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bà B: Ông Nguyễn Thanh A, sinh năm 1979, địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 08/01/2025). có mặt
- Người bị kiện:
- + Ủy ban nhân dân xã P; vắng mặt
- Địa chỉ: xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị H1, chức vụ: Công chức địa chính Ủy ban nhân dân xã P. có mặt
- + Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B; vắng mặt
- Địa chỉ: KDC B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ. vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1977; vắng mặt
- + Ông Nguyễn Thanh A, sinh năm 1979; có mặt
- + Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1982; vắng mặt
- Cùng địa chỉ: thôn Xuân Phú, xã Phong Nẫm, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- + Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1985; vắng mặt
- Địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai
- + Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1990; vắng mặt
- Địa chỉ: Tổ E, thôn F, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B1, ông H, bà N, bà H1: Ông Nguyễn Thanh A, sinh năm 1979, địa chỉ: thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 08/01/2025). có mặt
- + Chi nhánh Văn phòng Đ;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ. vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện trình bày:
Khoảng năm 1990, vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị B có khai phá diện tích đất, tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Gia đình bà Võ Thị B sử dụng ổn định, liên tục từ năm 1990 đến nay không có tranh chấp với ai. Tháng 3/2024, bà B liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đ đo đạc và được đo đạc thành 07 thửa đất gồm: Thửa đất số 41/2.263,9m², thửa đất số 55/1.409m², thửa đất số 24/1.133,1m², thửa đất số 36/1.464m², thửa đất số 81/2.127m², thửa đất số 73/1.578,5m², Thửa đất số 150/1.122m². Bà B lập hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 07 thửa đất nêu trên và nộp cho Ủy ban nhân dân xã P. Ủy ban nhân dân xã P làm các thủ tục xét tính pháp lý nguồn gốc đất nhưng lại xác nhận nguồn gốc đất của bà B là “Thửa đất bà Võ Thị B đăng ký cấp quyền là đất có nguồn gốc của các hộ dân (trong đó có đất của gia đình ông Sáu T2). Năm 1981 đất vào HTX và HTX quản lý giao khoán hàng năm cho hộ ông Nguyễn Văn T1. Đến năm 1990 hộ ông Nguyễn Văn T1 đã được Nhà nước xét cấp đủ diện tích đất theo bình quân nhân khẩu. Thửa đất còn lại hiện nay bà Võ Thị B đăng ký cấp quyền là ruộng ngoài khoán, thừa theo nhân khẩu nên trước đây HTX để lại không cấp. Quá trình HTX quản lý để trống hộ bà Võ Thị B sử dụng làm nông nghiệp từ trước năm 1993 cho đến nay không thấy ai tranh chấp hay khiếu nại. Hiện thửa đất trên trong biên bản họp hội đồng “V/v xác định đất công ích” ngày 25/10/2005; Hội đồng đăng ký đất đai xã P xác định đất công ích - đất 5% của địa phương. Thửa đất bà Võ Thị B làm hồ sơ đăng ký cấp quyền là đất HTX giao khoán hàng năm. Ý kiến Hội đồng Thống nhất xác định đây là đất 5% xã quản lý”.
Ngày 20/5/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Công văn số 708/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG hoàn trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 07 thửa đất của gia đình bà B. Bà Võ Thị B nhận thấy Ủy ban nhân dân xã P xác nhận các thửa đất của bà B có nguồn gốc là đất 5% do xã P quản lý là trái pháp luật, dẫn đến Chi nhánh Văn phòng Đ trả lại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà B. Vì vậy bà Võ Thị B khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết các vấn đề sau:
- - Tuyên bố hành vi xác nhận nội dung về nguồn gốc đất của Ủy ban nhân dân xã P tại đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà Võ Thị B là trái pháp luật.
- - Hủy Công văn số 708/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 20/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Võ Thị B.
- - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận, Ủy ban nhân dân xã P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày:
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cung cấp ý kiến tại Công văn số 4328/VPĐKĐĐ-HCTH ngày 17/12/2024.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân xã P:
Cung cấp ý kiến tại Công văn số 339/UBND ngày 11/3/2025.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng Đ trình bày:
Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp ý kiến tại Công văn số 11208/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 13/12/2024.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị B, tuyên bố hành vi xác nhận nội dung về nguồn gốc đất của Ủy ban nhân dân xã P tại đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà Võ Thị B là trái pháp luật; hủy Công văn số 708/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 20/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Võ Thị B; buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân xã P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về đối tượng khởi kiện: Sau khi bà Võ Thị B nộp hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân xã P đã có hành vi xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của bà B vào đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Chi nhánh Văn phòng Đ có hành vi thẩm tra hồ sơ và xác định không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Ủy ban nhân dân xã P đã có hành vi trả lại hồ sơ cho bà Võ Thị B. Đây là các hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của bà Võ Thị B, là đối tượng bị kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Công văn số 708/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 20/5/2024 về việc thông báo kết quả thẩm tra hồ sơ hành chính gửi Ủy ban nhân dân xã P là văn bản hành chính nội bộ giữa các cơ quan nhà nước với nhau nên không phải là quyết định hành chính.
[2] Người bị kiện và thẩm quyền giải quyết: Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị nằm trong cơ cấu tổ chức và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B. Do vậy, người bị kiện trong vụ án này là Ủy ban nhân dân xã P và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 20/5/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Công văn số 708/CNVPĐKĐĐ-ĐKCG hoàn trả lại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Võ Thị B đến Ủy ban nhân dân xã P. Ngày 23/10/2024, bà Võ Thị B nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận. Theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, vụ án còn thời hiệu khởi kiện.
[4] Về nội dung khởi kiện của bà Võ Thị B.
[4.1] Bà Võ Thị B đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 07 thửa đất gồm: Thửa đất số 41/2.263,9m², thửa đất số 55/1.409m², thửa đất số 24/1.133,1m², thửa đất số 36/1.464m², thửa đất số 81/2.127m², thửa đất số 73/1.578,5m², thửa đất số 150/1.122m². Nguồn gốc đất do vợ chồng bà Võ Thị B và ông Nguyễn Văn T1 khai phá, sử dụng ổn định từ năm 1990 đến nay, đất tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo ủy quyền của bà B cho rằng việc Ủy ban nhân dân xã P xác định thửa đất số 150, diện tích 1.122m² quy chủ cho ông Võ Văn D là không đúng thực tế.
[4.2] Ngày 25/10/2005, Hội đồng Đăng ký đất đai xã P lập biên bản xác định 53 trường hợp hộ gia đình, cá nhân, tổ chức sử dụng đất thuộc đất công ích 5% do xã quản lý, trong đó có các thửa đất của ông Nguyễn Văn T1 (chồng bà Võ Thị B). Theo trình bày của Ủy ban nhân dân xã P thì căn cứ xác định đất 5% là tính theo diện tích đất nông nghiệp được chia theo bình quân nhân khẩu, phần diện tích các hộ gia đình, cá nhân sử dụng vượt mức được chia theo bình quân nhân khẩu thuộc đất công ích 5% do Ủy ban nhân dân xã Q.
[4.3] Sau khi tiếp nhận hồ sơ của bà Võ Thị B đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 07 thửa đất nêu trên, căn cứ vào kết quả xét duyệt năm 2005, ngày 29/3/2024 Ủy ban nhân dân xã P đã xác nhận vào 07 đơn đăng ký của bà B cùng nội dung: “Thửa đất bà Võ Thị B (vợ ông Nguyễn Văn T1) đăng ký cấp quyền là đất có nguồn gốc trước đây của các hộ dân (trong đó có đất của gia đình ông Sáu T2). Năm 1981 đất vào HTX và HTX quản lý giao khoán hàng năm cho hộ ông Nguyễn Văn T1. Đến năm 1990, hộ ông Nguyễn Văn T1 đã được Nhà nước xét cấp đủ diện tích đất theo bình quân nhân khẩu. Thửa đất còn lại hiện nay bà Võ Thị B đăng ký cấp quyền là ruộng ngoài khoản, thừa theo nhân khẩu nên trước đây HTX để lại không cấp. Quá trình HTX quản lý để trống hộ bà Võ Thị B sử dụng làm nông nghiệp từ trước năm 1993 cho đến nay không thấy ai tranh chấp hay khiếu nại. Hiện thửa đất trên trong biên bản họp hội đồng “V/v xác định đất công ích” ngày 25/10/2005; Hội đồng đăng ký đất đai xã P xác định đất công ích - đất 5% của địa phương. Thửa đất bà Võ Thị B làm hồ sơ đăng ký cấp quyền là đất HTX giao khoán hàng năm. Ý kiến Hội đồng: Thống nhất xác định đây là đất 5% xã quản lý”.
[4.4] Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 72 Luật Đất đai năm 2003, Điều 74 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ và Điều 132 Luật Đất đai năm 2013 quy định mỗi xã được lập quỹ đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công ích không quá 5% và do UBND cấp xã quản lý sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và Ủy ban nhân dân cấp xã phải đăng ký vào sổ địa chính theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 21 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3. Theo các quy định nêu trên thì cơ sở pháp lý để xác định quỹ đất 5% phải căn cứ vào quy định của pháp luật trong từng thời kỳ, đủ cơ sở pháp lý và phải được UBND cấp xã thực hiện theo quy định của pháp luật.
[4.5] Từ trước ngày 25/10/2005 đến nay, Ủy ban nhân dân xã P không đăng ký quyền sử dụng đất đối với các thửa đất này, hồ sơ địa chính không quy chủ cho Ủy ban nhân dân xã P, Ủy ban nhân dân xã P cũng không trực tiếp quản lý sử dụng, mà gia đình bà Võ Thị B trực tiếp canh tác sử dụng từ trước năm 1993, không có hợp đồng cho thuê đất công ích giữa Ủy ban nhân dân xã P và gia đình bà B.
[4.6] Ủy ban nhân dân xã P xác nhận thửa đất số 41/2.263,9m², thửa đất số 55/1.409m², thửa đất số 24/1.133,1m², thửa đất số 36/1.464m², thửa đất số 81/2.127m², thửa đất số 73/1.578,5m², thửa đất số 150/1.122m² do gia đình bà B trực tiếp canh tác sử dụng từ trước năm 1993; hộ ông Võ Văn D không trực tiếp canh tác sử dụng thửa đất số 150/1.122m². Vì vậy biên bản họp hội đồng xác định đất công ích do Hội đồng đăng ký đất đai xã P lập ngày 25/10/2005 ghi nhận thửa đất số 99/1.072m² (nay là thửa đất số 150/1.122m²) do HTX giao khoán hàng năm cho hộ ông Võ Văn D là không đúng thực tế.
[4.7] Việc xác định đất 5% theo biên bản họp Hội đồng đăng ký đất đai xã P vào ngày 25/10/2005 là không có giá trị pháp lý vì không căn cứ vào các quy định của pháp luật. Do vậy, ngày 29/3/2024, UBND xã P căn cứ vào biên bản này để xác định 07 thửa đất bà Võ Thị B đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc đất 5% do xã quản lý là không đúng pháp luật. Do đó, hành vi trả hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị B của UBND xã P cũng không đúng quy định của pháp luật.
[4.8] Hành vi của Chi nhánh Văn phòng Đ: Sau khi nhận được hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Võ Thị B, Chi nhánh Văn phòng Đ đã không thẩm tra, xác minh, yêu cầu UBND xã P cung cấp các tài liệu để chứng minh cho việc xác nhận đất 5% của xã quản lý, mà chỉ căn cứ vào nội dung xác nhận của UBND xã P là đất 5% để từ đó cho rằng hồ sơ của bà B không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chưa thực hiện hết chức trách, nhiệm vụ và không phù hợp với quy định của pháp luật. Tại điểm d khoản 3 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định trách nhiệm của Văn phòng đăng ký đất đai như sau: Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký. Chi nhánh Văn phòng Đ không xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào trong đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận của bà B mà chỉ có văn bản gửi UBND xã P thông báo kết quả thẩm tra hồ sơ hành chính của công dân là chưa thực hiện đúng trình tự theo quy định của pháp luật.
Do vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị B là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 3, khoản 1 Điều 30, Điều 32, điểm c khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Điều 95, Điều 132 của Luật Đất đai năm 2013.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị B.
- - Tuyên bố hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P về việc xác nhận nguồn gốc đất tại thửa đất số 41, thửa đất số 55, thửa đất số 24, thửa đất số 36, thửa đất số 81, thửa đất số 73, thửa đất số 150, tờ bản đồ số 5, cùng địa chỉ tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thuộc quỹ đất 5% xã quản lý và hành vi hoàn trả hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị B là trái pháp luật.
- - Tuyên bố hành vi hành chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B do Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện xác định thửa đất số 41, thửa đất số 55, thửa đất số 24, thửa đất số 36, thửa đất số 81, thửa đất số 73, thửa đất số 150, tờ bản đồ số 5 mà bà Võ Thị B đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quỹ đất 5% do xã quản lý không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trái pháp luật.
- - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân xã P, thành phố P chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật.
2. Về án phí:
- - Bà Võ Thị B không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
- - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận, Ủy ban nhân dân xã P, thành Phố P, mỗi cơ quan phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Hùng |
Bản án số 60/2025/HC-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 60/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
