Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/DS-ST

Ngày: 15/4/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lâm Văn Vô
  2. Ông Đoàn Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Nguyễn Thiên Kim – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5: Bà Nguyễn Thị Khánh Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 212/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B
  2. Địa chỉ: Tòa nhà H, số D đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – Tổng Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền:

    1. Bà Trần Thu T1, sinh năm 1988
    2. Bà Đại Bảo N, sinh năm 1986
    3. Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1993
    4. Bà Huỳnh Thị Trúc M, sinh năm 1997

    Cùng địa chỉ: Số E L, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

    (Văn bản ủy quyền số 1015/24/BVBank/UQ-QL&THN ngày 24/9/2024).

  3. Bị đơn: Bà Đặng Thị Khoa M1, sinh năm 1985
  4. Địa chỉ: Số E đường số A, tổ C, khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn – Ngân hàng TMCP B trình bày: Ngày 06/3/2017, bà Đặng Thị Khoa M1 đã ký kết với Ngân hàng TMCP B (BV B1) Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH để vay vốn, cụ thể:

Số tiền vay: 464.000.000 đồng; mục đích vay là mua ô tô; thời hạn vay là 84 tháng; lãi suất vay ghi trên giấy nhận nợ; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Ngoài ra bà Đặng Thị Khoa M1 còn ký Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng thẻ tín dụng, hạn mức 50.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà M1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng thẻ tín dụng. Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở nhưng đến nay bà M1 vẫn không thanh toán nợ vay cho nguyên đơn. Tạm tính đến ngày 04/9/2024, tổng nghĩa vụ nợ của bà M1 là 510.885.610 đồng, trong đó: nợ gốc Hợp đồng tín dụng là 227.500.000 đồng, lãi vay là 159.711.325 đồng; Nợ gốc thẻ tín dụng là 49.985.731 đồng, nợ lãi là 73.688.554 đồng.

Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Đặng Thị Khoa M1 thanh toán ngay cho BV B1 tổng số nợ của Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017 và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng thẻ tín dụng ngày 12/10/2016 số tiền 533.950.435 đồng (Năm trăm ba mươi ba triệu chín trăm năm mươi ngàn bốn trăm ba mươi lăm đồng) (tính đến ngày 30/12/2024), trong đó:

  • – Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017, chi tiết như sau:
    • + Gốc : 227.500.000 đồng

    • + Lãi trong hạn : 50.557.486 đồng

    • + Lãi quá hạn : 109.505.244 đồng

    • + Lãi chậm trả lãi : 15.022.465 đồng

    • Tổng cộng : 402.585.195 đồng.

  • – Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016, chi tiết như sau:
    • + Gốc : 49.985.731 đồng

    • + Lãi quá hạn : 81.379.509 đồng

    • Tổng cộng : 131.365.240 đồng.

Và tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết kể từ ngày 31/12/2024 cho đến khi bà Đặng Thị Khoa M1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho BV B1. Thanh toán khoản nợ ngay sau khi Quyết định, Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn – bà Đặng Thị Khoa M1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Theo bản tự khai ngày 15/4/2025, nguyên đơn có bà Trần Thu T1 là người đại diện theo ủy quyền xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đặng Thị Khoa M1 trả ngay một lần cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 555.646.966 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi sáu ngàn, chín trăm sáu mươi sáu đồng), trong đó:

  • – Đối với Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017, chi tiết như sau:
    • + Gốc : 227.500.000 đồng

    • + Lãi trong hạn : 50.557.486 đồng

    • + Lãi quá hạn : 122.183.612 đồng

    • + Lãi chậm trả lãi : 15.472.754 đồng

    • Tổng cộng : 416.713.852 đồng.

  • – Đối với Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016, chi tiết như sau:
    • + Gốc : 49.985.731 đồng

    • + Lãi quá hạn : 88.347.383 đồng

    • Tổng cộng : 138.333.114 đồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017 và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016 mà nguyên đơn và bị đơn đã xác lập và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định bị đơn đã vi phạm

nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền là 555.646.966 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi sáu ngàn, chín trăm sáu mươi sáu đồng), tạm tính đến ngày 15/4/2025, trong đó:

  • + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017: nợ gốc là 227.500.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng), lãi trong hạn 50.557.486 đồng (Năm mươi triệu, năm trăm năm mươi bảy ngàn, bốn trăm tám mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 122.183.612 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi ba ngàn, sáu trăm mười hai đồng), lãi chậm trả là 16.472.754 đồng (Mười sáu triệu, bốn trăm bảy mươi hai ngàn, bảy trăm năm mươi bốn đồng).

  • + Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016: nợ gốc là 49.985.731 đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm tám mươi lăm ngàn, bảy trăm ba mươi mốt đồng), lãi quá hạn 88.347.383 đồng (T3 mươi tám triệu ba trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm tám mươi ba đồng).

Nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ phát sinh từ quan hệ Hợp đồng tín dụng xác lập giữa tổ chức tín dụng và cá nhân nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Do Hợp đồng tín dụng được giao kết và thực hiện tại Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh S có địa chỉ tại Quận E nên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 thì Tòa án nhân dân Quận 5 có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự nêu trên theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về việc giải quyết vắng mặt các đương sự:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung:

Nguyên đơn được phép hoạt động trong lĩnh vực tín dụng theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0301378892 do Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp. Hợp đồng tín dụng trung dài hạn và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng được giao

kết giữa hai bên có hình thức, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có giá trị pháp lý ràng buộc quyền, nghĩa vụ giữa các bên.

[3.1] Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017, nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 464.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi bốn triệu đồng), mục đích vay thanh toán tiền mua xe FORD RANGER; Thời hạn cho vay là 84 tháng kể từ ngày bên được cấp tín dụng nhận nợ vay lần đầu. Theo Giấy nhận nợ ngày 07/3/2027, nguyên đơn đã giải ngân toàn bộ số tiền 464.000.000 đồng cho bên vay là bà Đặng Thị Khoa M1 theo hình thức chuyển khoản vào số tài khoản của Công ty Cổ phần D. Lãi suất cho vay cố định trong 05 tháng đầu là 8.6%, lãi suất toàn bộ nợ vay phát sinh theo hợp đồng tín dụng do VCCB quyết định điều chỉnh theo định ký 03 tháng/lần, lãi suất từ tháng thứ 6 trở đi được tính theo công thức = Lãi suất tiền tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ tại thời điểm của VCCB + biên độ 4%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Quá trình thực hiện hợp đồng, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 26/10/2020, nguyên đơn đã chuyển khoản vay của bị đơn sang qua hạn với dư nợ gốc là 227.500.000 đồng. Do vậy, xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán ngay toàn bộ nợ gốc 227.500.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về yêu cầu tính lãi, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1) quy định: “1. Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng N1. 2. Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do tổ chức tín dụng ấn định và thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng”, như vậy Theo Giấy nhận nợ ngày 07/3/2027, lãi suất cho vay cố định trong 05 tháng đầu là 8.6%, lãi suất toàn bộ nợ vay phát sinh theo hợp đồng tín dụng do VCCB quyết định điều chỉnh theo định ký 03 tháng/lần, lãi suất từ tháng thứ 6 trở đi được tính theo công thức = Lãi suất tiền tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ tại thời điểm của VCCB + biên độ 4%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Thỏa thuận lãi suất của các bên là phù hợp với quy định pháp luật đã viện dẫn nêu trên. Từ ngày 26/10/2020 đến nay thì lãi suất trong hạn là 12.5%/năm, lãi suất quá hạn là 18.75%/năm. Ngoài ra, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết

01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm là đúng với quy định của pháp luật.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm trả số tiền lãi tổng cộng là 189.213.852 đồng, trong đó lãi trong hạn 50.557.486 đồng, lãi quá hạn là 122.183.612 đồng, lãi chậm trả là 16.472.754 đồng (tạm tính đến ngày 15 tháng 4 năm 2025) là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 16/4/2025 theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi bị đơn trả hết nợ.

Tổng dự nợ gốc và lãi của Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017 tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 416.713.852 đồng (Bốn trăm mười sáu triệu, bảy trăm mười ba ngàn, tám trăm năm mươi hai đồng).

[3.2] Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016:

Về yêu cầu thanh toán nợ gốc: Căn cứ Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016, đã được phê duyệt đính kèm Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, tóm tắt sao kê, bảng chi tiết tính lãi mà nguyên đơn cung cấp, lời trình bày của nguyên đơn có cơ sở để xác định bị đơn đã được nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng. Hai bên thỏa thuận về lãi suất, phí, phương thức thanh toán theo quy định. Nguyên đơn đã cấp cho bị đơn thẻ tín dụng có số tài khoản 90014652001, loại thẻ VisainSty Stand, hạn mức 50.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, không thanh toán cho nguyên đơn tiền gốc và lãi. Ngày 11/08/2021, nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Sau khi chuyển nợ quá hạn thì dư nợ gốc là 49.985.731 đồng.

Do vậy, xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán ngay toàn bộ nợ gốc 49.985.731 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về yêu cầu tính lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của nguyên đơn và Quyết định ban hành biểu phí, lãi suất thẻ tín dụng cá nhân thì mức lãi suất áp dụng đối với thẻ tín dụng của bị đơn là 32%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 quy định như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và các thông báo về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng tại các thời kỳ xác định bị đơn trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn. Nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bà Đặng Thị K My sang nợ quá hạn kể từ ngày 11/08/2021 là phù hợp. Vì vậy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi quá hạn tính từ ngày 11/08/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 15/4/2025 với tổng số tiền 88.347.383 đồng là có cơ sở chấp nhận phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Tiền lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 16/4/2025 theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi bị đơn trả hết nợ.

Tổng dự nợ gốc và lãi của Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016 tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 138.333.114 đồng.

[3.3] Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Trong vụ án này, nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với bị đơn thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đối chiếu quy định pháp luật cũng với những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định số tiền bị đơn đã sử dụng phục vụ nhu cầu cá nhân nên không buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của bị đơn.

[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể buộc bị đơn – bà Đặng Thị Khoa M1 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền tổng cộng là 555.646.966 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi sáu ngàn, chín trăm sáu mươi sáu đồng), tạm tính đến ngày 15/4/2025, trong đó:

  • + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017: nợ gốc là 227.500.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng), lãi trong hạn 50.557.486 đồng (Năm mươi triệu, năm trăm năm mươi bảy ngàn, bốn trăm tám mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 122.183.612 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi ba ngàn, sáu trăm mười hai đồng), lãi chậm trả là 16.472.754 đồng (Mười sáu triệu, bốn trăm bảy mươi hai ngàn, bảy trăm năm mươi bốn đồng).

  • + Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016: nợ gốc là 49.985.731 đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm tám mươi lăm ngàn, bảy trăm ba mươi mốt đồng), lãi quá hạn 88.347.383 đồng (T3 mươi tám triệu, ba trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm tám mươi ba đồng).

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán theo quy định pháp luật; nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 37, 39, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP B:

Buộc bà Đặng Thị Khoa M1 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền tổng cộng là 555.646.966 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi sáu ngàn, chín trăm sáu mươi sáu đồng), tạm tính đến ngày 15/4/2025, trong đó:

  • + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017: nợ gốc là 227.500.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng), lãi trong hạn 50.557.486 đồng (Năm mươi triệu, năm trăm năm mươi bảy ngàn, bốn trăm tám mươi sáu đồng), lãi quá hạn là 122.183.612 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, một trăm tám mươi ba ngàn, sáu trăm mười hai đồng), lãi chậm trả là 16.472.754 đồng (Mười sáu triệu, bốn trăm bảy mươi hai ngàn, bảy trăm năm mươi bốn đồng).

  • + Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016: nợ gốc là 49.985.731 đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm tám mươi lăm ngàn, bảy trăm ba mươi mốt đồng), lãi quá hạn 88.347.383 đồng (T3 mươi tám triệu, ba trăm bốn mươi bảy ngàn, ba trăm tám mươi ba đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Đặng Thị Khoa M1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thi hành theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 0128/00317/XE.03.HĐTDTDH ngày 06/03/2017

và Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 12/10/2016 của Ngân hàng TMCP B.

Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

Bà Đặng Thị Khoa M1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 26.225.879 đồng (Hai mươi sáu triệu, hai trăm hai mươi lăm ngàn, tám trăm bảy mươi chín đồng).

Ngân hàng B không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.217.712 đồng (Mười hai triệu, hai trăm mười bảy ngàn, bảy trăm mười hai đồng) theo Biên lai thu số 0036439 ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

4. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự

thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

THẨM PHÁN

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND Quận 5;
  • - Chi cục THADS Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Bích Trâm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

TÒA

Lâm Văn Vô Đoàn Hồng Hải

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN

Võ Thị Bích Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 60/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger