Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U

TỈNH C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/DS-ST

Ngày 10-6-2025

V/v “Tranh chấp tiền hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Huy Quang;

Ông Trịnh Hữu Hiệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh C tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Tuyết Trân – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc Tranh chấp tiền hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Phan Thành Đ, sinh năm: 1967
  • Địa chỉ cư trú: Ấp I, xã K, huyện U, tỉnh C.
  • - Bị đơn: 1. Bà Dương Thị L, sinh năm: 1963.
  • 2. Ông Dương Văn N, sinh năm: 1954.
  • Cùng địa chỉ: Ấp I, xã K, huyện U, tỉnh C.

(Ông Đ, bà L có mặt, ông N vắng mặt có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 01 năm 2025, nguyên đơn ông Phan Thành Đ trình bày: Bà Dương Thị L và ông Dương Văn N mở một số dây hụi, ông tham chơi. Hàng tháng ông đóng tiền hụi cho bà L và ông N nhưng bà L và ông N tuyên bố dừng khui và không tiếp tục khui, gom hụi và không trả lại tiền hụi cho ông. Dây hụi ông tham gia gồm: Dây hụi mở ngày 20/4/2020 âm lịch, loại 4.000.000 đồng/tháng, gồm 20 hụi viên, tham gia 01 chân, trong danh sách ghi tên Được, đã đóng hụi từ 04/2020 âm lịch đến tháng 01/2021 là 11 tháng (vì năm 2020 lịch có nhuần 02 tháng 4). Số tiền hụi còn nợ ông là: 11 tháng x 4.000.000 đồng = 44.000.000 đồng; Dây hụi mở ngày 29/11/2019 âm lịch, loại 4.000.000 đồng/tháng, gồm 25 hụi viên, tham gia 01 chân, trong danh sách ghi tên Được, đã đóng hụi từ 11/2019 âm lịch đến tháng 12/2020 là 15. Số tiền hụi còn nợ ông là: 15 tháng x 4.000.000 đồng = 60.000.000 đồng. Ông đồng ý trừ tiền cò cho bà L 2 chân là 4.000.000 đồng. Số tiền bà L còn thiếu là 44.000.000 đồng + 60.000.000 đồng – 4.000.000 đồng = 100.000.000 đồng.

Bà L, ông N đã trả được 35.000.000 đồng, còn nợ lại là 65.000.000 đồng. Ông có yêu cầu chính quyền ấp I, xã K, huyện U giải quyết nhưng ông N và bà L không đến nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Dương Văn N và bà Dương Thị L có trách nhiệm trả cho ông số tiền là 65.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Đ trình bày do hụi đình nên ông chỉ yêu cầu bả L, ông N trả cho ông số tiền hụi là 50.000.000 đồng, giảm cho bà L, ông N là 15.000.000 đồng.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/3/2025 và tại phiên tòa, bị đơn bà Dương Thị L trình bày: Ông Đ có tham gia hụi do bà làm chủ, dây hụi mở ngày 29/11/2019 âm lịch, đóng được 15 lần thì đình hụi. Có lập biên bản thể hiện còn thiếu lại 15 lần là 58.000.000 đồng (trừ tiền cò và tính theo giá hụi chết mỗi chân). Chân hụi mở ngày 20/4/2020 âm lịch loại hụi 4.000.000 đồng cũng đình hụi, đóng được 11 lần. Các dây hụi này hụi viên kêu cao, đóng tiền hụi hàng tháng từ 2.000.000 đồng đến dưới 2.000.000 đồng. Bà yêu cầu được trả lại bằng tiền vốn đã đóng, mỗi dây hụi hơn 20.000.000 đồng, bà đã trả được 35.000.000 đồng, trừ số tiền đã trả, còn lại bao nhiêu bà đồng trả cho ông Đ theo hàng tháng.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, buộc bà Dương Thị L, ông Dương Văn N trả cho ông Phan Thành Đ số tiền hụi còn thiếu là 50.000.000 đồng. Án phí dân sự đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp theo yêu cầu của ông Phan Thành Đ đòi bà Dương Thị L, Dương Văn N trả lại tiền hụi còn thiếu được xác định là tranh chấp dân sự về tiền hụi, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông N vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt ông N.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bà L thừa nhận ông Đ có tham gia hụi do bà L làm chủ, loại hụi 4.000.000 đồng/tháng, đóng hàng tháng, ông Đ đã đóng được 15 lần, bằng số tiền là 58.000.000 đồng và chân hụi mở ngày 20/4/2020 âm lịch đóng được 11 lần bằng số tiền là 44.000.000 đồng. Bà L đã trả cho ông Đ được 35.000.000 đồng. Lời trình bày của bà L phù hợp với giấy hụi và lời trình bày của ông Đ tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định, bà L là chủ hụi, ông Đ tham gia dây hụi mở ngày 29/11/2019 âm lịch, hụi đóng được 15 lần và tham gia dây hụi mở ngày 20/4/2020 âm lịch đóng được 11 lần, loại hụi 4.000.000 đồng/tháng, bà L đình hụi, bà L đã trả cho ông Đ được 35.000.000 đồng, trừ tiền cò thì bà L còn thiếu lại số tiền 65.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Đ thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà L, ông N trả tiền hụi còn thiếu là 50.000.000 đồng, xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông Đ phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Bà L cho rằng do hụi kêu cao nên bà yêu cầu cho bà được trả lại bằng số tiền hụi đã đóng (hụi sống) và trừ lại số tiền hụi bà đã trả cho ông Đ là 35.000.000 đồng, còn lại bao nhiêu bà đồng ý trả cho ông Đ. Ông Đ không đồng ý với ý kiến của bà L về trả tiền hụi đã đóng. Xét thấy, việc đình hụi do bà L thực hiện, sau khi chốt hụi đình thì bà L đã tính tiền hụi với ông Đ bằng hụi chết, vì vậy, bà L phải có trách nhiệm trả lại cho hụi viên chưa nhận lại tiền hụi theo số tiền thỏa thuận của dây hụi, vì vậy, ông Đ yêu cầu bà L trả lại tiền hụi tính theo hụi chết là có căn cứ chấp nhận. Nợ phát sinh trong thời kì hôn nhân của bà L và N nên ông N phải có nghĩa vụ liên đới với bà L thanh toán số tiền hụi còn nợ cho ông Đ. Tại phiên tòa, ông Đ chỉ yêu cầu trả số tiền hụi là 50.000.000 đồng. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, buộc ông Dương Văn N và bà Dương Thị L phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Đ số tiền hụi còn thiếu là 50.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí dân sự có giá ngạch: Yêu cầu của ông Đ được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Án phí dân sự bà L, ông N được miễn nộp do thuộc trường hợp được miễn và có đơn xin miễn án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 244, khoản 1 Điều 227, Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Thành Đ. Buộc bà Dương Thị L và ông Dương Văn N có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Phan Thành Đ số tiền hụi còn thiếu là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị L, ông Dương Văn N được miễn.

Hoàn trả cho ông Phan Thành Đ tạm ứng án phí đã nộp số tiền 1.625.000 (một triệu, sáu trăm hai mươi lăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006967 ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U, tỉnh C.

- Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh C;
  • - VKSND huyện U;
  • - Chi cục THADS huyện U;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Việt Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH C về tranh chấp tiền hụi

  • Số bản án: 60/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH C
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Đ yêu cầu bà L và ông N trả tiền hụi sau khi ngừng hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger