Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/DS-PT

Ngày: 30/6/2025

“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn

Các thẩm phán: Ông Trần Đình Chi và ông Nguyễn Hán Hưởng

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2025/DSPT ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXPT - DS ngày 06 tháng 6 năm 2025.

Nguyên đơn:

  1. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1971 (có mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  3. Đều có địa chỉ: Khu A, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

  4. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1976 (vắng mặt)
  5. Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ;

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tuyết B, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu A xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt)

Bị đơn:

  1. Anh Trần Tiến N, sinh năm 1980 (có mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1989 (có mặt)
  3. Đều có địa chỉ: Khu A, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Anh P, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu E, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ. (có mặt)
  2. Anh Trần Hải Đ, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
  3. Anh Trần Hải Đ1, sinh năm 1982; Địa chỉ : Khu E, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

Đại diện theo uỷ quyền của anh N, chị N1, anh Đ: Anh Trần Anh P, sinh năm 1978, chị Trần Thị P1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu E, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ. (đều có mặt)

  1. UBND xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ: Ông Nguyễn Bá H - Phó chủ tịch UBND xã Y đại diện (đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. UBND huyện H, tỉnh Phú Thọ: Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh Đ2 - Phó trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường đại diện (đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn,chị Phạm Thị Tuyết B trình bày:

Tôi là vợ anh Nguyễn Tuấn A, tôi được anh A, anh Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn Thành ủy Q khởi kiện và tham gia tố tụng giải quyết về việc tranh chấp quyền sử dụng đất của gia đình, cụ thể: Anh Nguyễn Tuấn A; anh Nguyễn Văn C; anh Nguyễn Văn T có bố đẻ là Nguyễn Văn L và mẹ đẻ là Phùng Thị P2 (Đều đã chết) Khi chết bố mẹ anh A; anh C; anh T có để lại di sản thừa kế cho các anh là thửa đất số: 54; tờ bản đồ số: 15; diện tích 2.363 m2 tại khu A, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất trên đã được UBND huyện H, tỉnh Phú Thọ cấp giấy CNQSDĐ ngày 20/11/1999 cho hộ ông Nguyễn Văn L. Gia đình đã sử dụng ổn định không có tranh chấp với ai. Đến năm 2015, 2016 hộ gia đình ông Trần Đức T1 có con là Trần Tiến N có hỏi đi nhờ gia đình tôi để vận chuyển vật liệu xây dựng nhà ở cho thuận tiện vì lối đi chính của gia đình ông Trần Đức T1 là đi qua nhà bà Phùng Thị K, nhà ông Trần Đức P3 và ông Vương Khắc Đ3 ra đến cổng nhà ông C- Nghị theo bản đồ địa chính mà tôi được biết. Khi làm xong ngôi nhà gia đình ông T1 thấy tiện nên vẫn sử dụng phần diện tích đất của gia đình tôi làm lối đi. Đến năm 2018 gia đình tôi san đất nền để làm nhà thì anh Trần Tiến N đã cản trở không cho gia đình tôi san đất. Ngay khi có tranh chấp gia đình tôi đã có đơn báo cáo lên chính quyền địa phương để giải quyết. Nhiều lần giải quyết không thành anh N và gia đình không trả lại diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình tôi để làm cổng đi. Tôi khẳng định phần diện tích đất hiện nay anh Trần Tiến N và chị Nguyễn Thị Thanh N1 đang sử dụng làm cổng đi thuộc quyền sử dụng của hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn L và bà Phùng Thị P2 là các anh Nguyễn Tuấn A, anh Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn T.Nay anh A, anh C, anh T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ giải quyết buộc gia đình anh N, chị N1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm làm cổng đi. Tôi nhất trí với kết quả đo đạc được xem xét, thẩm định ngày 15/12/2022 với diện tích bị sử dụng trái phép là 244,2m2, tôi không yêu cầu xem xét, thẩm định lại, không yêu cầu định giá lại, tôi nhất trí với kết quả định giá là 29.304.000 đồng.

Trong bản tự khai, quá trình giải quyết anh Trần Tiến N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người được ủy quyền của bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Anh P và chị Trần Thị Phương trình B1:

Bố tôi là Trần Đức T1 và mẹ tôi là Hoàng Thị H1 (đều đã chết). Bố mẹ tôi có để lại khối di sản thừa kế cho bốn anh em chúng tôi là Trần Anh P, Trần Tiến N, Trần Hải Đ, Trần Hải Đ1 là thửa đất số: 52; tờ bản đồ số: 15; diện tích 1.988,0 m2 trong đó có 300 m2 đất ở và 1.688 m2 đất vườn tại khu C, xã C cũ nay là khu A, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay diện tích đất này do anh Trần Tiến N và vợ là Nguyễn Thị Thanh N1 đang quản lý, sử dụng. Anh Nguyễn Tuấn A; anh Nguyễn Văn C; anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu gia đình chúng tôi phải trả lại diện tích đất chiếm làm lối đi của gia đình, chúng tôi không chấp nhận vì đây là lối đi của gia đình chúng tôi từ trước không lấn chiếm đất của ai. Lối đi này chúng tôi được biết có từ bốn đời nay, việc này chúng tôi đã xin xác nhận của những người làm chứng, có xác nhận của những người tham gia công tác tại địa phương (đã nghỉ công tác) xác nhận đã nộp tại Toà án nhân dân tỉnh P. Do đó yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tuấn A; anh Nguyễn Văn C; anh Nguyễn Văn T chúng tôi không nhất trí. Anh P, chị P1 không đồng ý với kết quả đo đạc đối với phần đất tranh chấp. Anh P, chị P1 không yêu cầu xem xét, thẩm định lại và cũng không yêu cầu định giá.

Trong quá trình giải quyết vụ án, những người làm chứng trình bày:

Ông Lê Văn M, sinh năm 1964 - Hiện nay là Trưởng khu 10 xã Y, bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1963, ông Phùng Xuân T2, sinh năm 1958 và một số người dân (hàng xóm với nguyên đơn và bị đơn) xác định thửa đất của hộ ông Trần Đức T1 nay là anh Trần Tiến N và chị Nguyễn Thị Thanh N1 đang quản lý có một con đường khác đi qua cổng nhà bà Phùng Thị K, ông Trần Đức P3 và ông Vương Khắc Đ3 để vào nhà. Thời điểm khoảng năm 1989 bà H1 (mẹ anh N) chết bản thân các ông, bà cùng người dân đã khiêng và đưa ma mẹ anh N bằng con đường này, hiện nay con đường đó vẫn còn đang tồn tại, nhưng gia đình anh N không đi nữa chứ không phải con đường đi qua đất nhà ông L như bây giờ. Trước đây, khi ông T1 và ông L còn sống thì phía cổng nhà ông T1 sang nhà ông L có 01 lối đi tắt (đi bộ) qua đầu nhà bếp đi ra sân nhà ông L (gọi là đường xin lửa). Đến khoảng năm 2015 - 2016 gia đình anh N xây nhà có đi nhờ đất nhà ông L (nay là gia đình chị B, anh A đang quản lý) để vận chuyển vật liệu cho thuận tiện.

Anh Trần Phúc H2 (con trai ông Trần Đức P3) xác định gia đình ông T1 trước đây đi qua cổng nhà anh. Hiện con đường đó vẫn đang tồn tại, nhưng gia đình anh N, chị N1 không đi nữa mà đi nhờ qua đất nhà ông L (hiện do chị B, anh A quản lý).

Anh Trần Tiến N cung cấp xác nhận của một số người trong đó có lời khai của ông Hoàng Văn M1, sinh năm 1960 là chú họ anh N và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1958 là anh em trong dòng họ anh N xác nhận lối đi hiện nay qua đất của ông L là có từ ngày xưa.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Toà án Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa đã:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 5, khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158, 165 và Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 115, 163, 164 và Điều 166 của Bộ luật dân sự; Điều 100, 166,170, 202 và Điều 203 Luật đất đai 2013; khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tuấn A, anh Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn T do chị Phạm Thị Tuyết B đại diện theo ủy quyền.
  2. Xử buộc anh Trần Tiến N và chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải trả lại cho anh Nguyễn Tuấn A, anh Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn T do chị Phạm Thị Tuyết B đại diện theo ủy quyền diện tích 244,2m² đất theo chỉ giới 6,21,22,23,24,25,26,27,28,16,15,14,13,12,11,10,9,8,7,6 (có bản trích đo kèm theo).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền đề nghị thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Tại phiên toà, anh Trần Anh P và chị Trần Thị Phương G nguyên yêu cầu kháng cáo, không nhất trí trả lại diện tích 244,22m² đất cho Nguyễn Tuấn A, anh Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn T.

Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn L và cụ Phùng Thị P2 là anh Nguyễn Tuấn A; anh Nguyễn Văn C; anh Nguyễn Văn T, ngoài ra không có con chung và con riêng nào khác. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1. Giữ nguyên Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Về án phí dân sự phúc thẩm, anh N, chị N1 phải chịu theo quy định của pháp luật. (có bài phát biểu chi tiết kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về hình thức đơn kháng cáo của anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1 làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Sự có mặt của đương sự. Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn C vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho chị Phạm Thị Tuyết B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Hải Đ vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1; Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện H, UBND xã Y có đơn xin xét xử vắng mặt; òaHoafChị Trần Thị P1 là vợ của anh Trần Anh P vắng mặt, anh Trần Hải Đ1 hiện đang ở nước ngoài nhưng anh Trần Anh P đã thông báo các văn bản của Tòa án cho anh Đ1 và anh Đ1 xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa các bên đương sự đều đề nghị xét xử vắng mặt chị P1, anh Đ1, đại diện theo ủy quyền của UBND huyện H, UBND xã Y. Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét về nội dung kháng cáo của anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo như chị Phạm Thị Tuyết B là người đại theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp là 244,2m² mà anh Trần Tiến N, chị Nguyễn Thị Thanh N1 đang sử dụng làm đường đi thuộc 1 phần trong diện tích đất thửa đất số 54, tờ bản đồ số 15 diện tích 2.363m² tại xã C cũ nay là khu A xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ là tài sản của cụ Nguyễn Văn L và cụ Phùng Thị P2 đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSDĐ số: O 294916, ngày 20/11/1999 đứng tên Nguyễn Văn L (bố Anh Nguyễn Tuấn A; anh Nguyễn Văn C; anh Nguyễn Văn T) do vợ chồng anh A, chị B đang quản lý và sử dụng từ năm 1999 đến nay.

Theo anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phần diện tích đất tranh chấp là 244,2m² nêu trên do anh Trần Tiến N, chị Nguyễn Thị Thanh N1 đang sử dụng làm đường đi nằm trong thửa đất số: 52; tờ bản đồ số: 15; diện tích 1.988,0 m2 trong đó có 300 m2 đất ở và 1.688 m2 đất vườn tại khu C, xã C cũ nay là khu A, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ là của hộ ông Trần Đức T1 (bố đẻ của anh Trần Anh P, Trần Tiến N, Trần Hải Đ, Trần Hải Đ1) đã có từ bốn đời nay, diện tích đất này do anh Trần Tiến N và vợ là Nguyễn Thị Thanh N1 đang quản lý, sử dụng.

Tại biên bản xác minh tại UBND xã Y, huyện H cho biết, hiện nay UBND xã Y đang quản lý 02 bản đồ, bản đồ giải thửa 299 và bản đồ2007. Tuy nhiên bản đồ 2007 chưa được nhà nước công nhận để sử dụng nên UBND xã đang sử dụng bản đồ giải thửa 299 để quản lý. Phần đất tranh chấp có diện tích 244,2m², trên bản đồ giải thửa 299 do Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H đang quản lý và sử dụng thì không thể hiện có con đường này. Điều đó chứng tỏ thửa 54, tờ bản đồ số 15, thuộc khu C xã C nay là khu 10 xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ của gia đình ông Lưu N2 do chị B, anh A quản lý và sử dụng được UBND huyện H cấp quyền sử dụng là thửa đất có gianh giới khép kín. Các bên đương sự thừa nhận hàng cây vải, cây xoan được trồng ven bờ ruộng bên dưới phần đất đang tranh chấp là của gia đình ông Nguyễn Văn L trồng từ nhiều năm nay; những người dân sống cùng khu với hai gia đình nguyên đơn và bị đơn xác định hộ ông Trần Đức T1 mà hiện nay anh N, chị N1 đang quản lý sử dụng có một con đường khác đi qua các hộ bà K, ông P3 và ông Đ3 để vào thửa đất của gia đình. Tuy nhiên đến khoảng năm 2015 - 2016 giữa gia đình ông L và gia đình ông T1 có thỏa thuận với nhau như thế nào đó để cho gia đình ông T1 đi qua hộ ông L vận chuyển vật liệu để xây dựng ngôi nhà. Còn hiện nay con đường đi vào hộ ông T1, anh N, chị N1 (con đường cũ) vẫn còn đang tồn tại. Tại phiên tòa anh P thừa nhận thời điểm mẹ anh chết cũng đưa ma bằng con đường qua nhà bà K, ông P3 và ông Đ3, tuy nhiên do bị ngập nên gia đình anh không đi nữa.

Theo biên bản xác minh ngày 13/11/2024, ông Nguyễn Mạnh Đ2 – Phó trưởng phòng TN-MT huyện H và ông Nguyễn Bá H – Phó Chủ tịch UBND xã Y, huyện H cho biết: Con đường chính vào thửa đất hộ ông Trần Đức T1 là con đường đi qua hộ ông Vương Khắc Đ3, ông Trần Đức P3 và bà Phùng Thị K. Hiện con đường này bỏ hoang do 03 hộ gia đình đã chuyển ra ngoài nơi ở mới, chỉ còn hộ ông T1 vẫn ở nhưng không sử dụng nên sạt lở, có cây cối và cỏ dại mọc um tùm. Con đường đi vào thửa đất của hộ ông Nguyễn Văn L là đường ngõ xóm đi từ đường liên thôn vào qua hộ ông Phùng Văn T3 đến hộ ông L, phía trong là thửa đất của hộ ông Trần Đức T1. Bản đồ 299 UBND xã Y đang quản lý sử dụng thì thửa đất số 52 (hộ ông T1) không thể hiện có lối đi. Bản đồ đo vẽ năm 2006, hoàn thiện 2007 có thể hiện lối đi vào thửa đất số 52 là lối đi khác, không phải lối đi đang tranh chấp.

Tại Công văn số 43/CV-UBND ngày 12/12/2018 của chủ tịch UBND xã C nay là xã Y, huyện H do chị B cung cấp đã trả lời đơn của công dân: xác định theo bản đồ cấp giấy chứng nhận QSDĐ (bản đồ giải thửa 299) thể hiện thổ cư của bà B đang sử dụng diện tích là 300m² đất ở và 2063m² đất CLN thuộc thửa 54, tờ bản đồ số 15, giấy CNQSDĐ số O 294916 đứng tên ông Nguyễn Văn L là một thửa độc lập, không có đường giao thông cắt qua thửa đất.

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2024 cho thấy, từ đường liên thôn đi vào ngõ xóm, phía bên phải là hộ ông Phùng Văn T3, tiếp giáp là thửa đất của ông Nguyễn Văn L, tiếp giáp hộ ông L là thửa đất của hộ ông Trần Đức T1. Phía bên trái lối đi là đất ruộng và đất màu khác có lối đi vào nhà ông T1 hiện do anh N, chị N1 đang sử dụng. Ven ruộng và đất màu khác là hàng cây vải, cây xoan ....do anh A và chị B quản lý, sử dụng. Phía đầu đoạn đường đang tranh chấp từ phía nhà ông T1 đi ra, phía bên trái có 01 lối mòn đi từ phía nhà ông T1 lên đầu bếp nhà ông L, hiện lối đi này từ lâu không sử dụng nên dốc cao và có cây cối ( đường xin lửa, lối đi tắt ) phù hợp với lời khai của những người làm chứng.

Như vậy, phần đất có tranh chấp có diện tích 244,2m2 thuộc thủa đất số 54, tờ bản đồ số 15 là của gia đình anh Nguyễn Tuấn A, anh Nguyễn Văn C và anh Nguyễn Văn T là hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn L và cụ Phùng Thị P2. Cấp sơ thẩm đã buộc gia đình anh N chị N1 phải trả lại cho anh A, anh C, anh T 244,2m2 đất là có căn cứ.

[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

[4] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bầy tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Trần Tiến N, chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Không chấp nhân kháng cáo của anh Trần Anh P và chị Trần Thị P1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Tiến N, chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Xác nhận anh Trần Anh P đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa số 0003175 ngày 25/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện hạ Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Hạ Hòa;
  • - Tòa án nhân dân huyện hạ Hòa ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Toàn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 60/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa anh A và anh N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger