|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2025/DS-PT Ngày 13 - 02 - 2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Thái Duy Nhiệm; |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Đình Khánh; |
| Bà Vũ Thị Thu Hà. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lê - Thẩm tra viên chính Tòa án
nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Đức Thắng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 495/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST, ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 541/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Anh Phạm Thanh T, sinh năm 1989 và chị Nguyễn Mỹ L, sinh năm 1994 (vợ của anh T), đều vắng mặt;
- Cùng địa chỉ: Số A, đường H, xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- * Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976, đều vắng mặt;
- Cùng địa chỉ: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị T1:
- - Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, vắng mặt;
- - Ông Trương Văn L2, sinh năm 1946; địa chỉ: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L1: Ông Nguyễn Cao T2, Luật sư Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N, có mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2001;
- Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: A, yurihonjushi, H1, 57 Sejifamiru, 103 Gorashitsu, Nhật Bản, vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị N:
- Anh Mai Văn T3, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
- - Bà Trương Thị M, sinh năm 1962, vắng mặt;
- Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- * Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn L1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là anh Phạm Thanh T và chị Nguyễn Mỹ L trình bày:
Anh T4 và chị L là chủ sử dụng thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, tại xóm A cũ (nay là xóm G), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; thửa đất này được bố của anh T4 là ông Phạm Văn Q nhận chuyển nhượng lại từ ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị N vào ngày 02/5/2012 với giá 150.000.000 đồng. Do thời điểm đó, bố của anh T4 chưa sử dụng thửa đất và đường làng phía trước chưa đổ bê tông là đất đường đi lại khó khăn nên chưa xây dựng gì và chưa muốn sang tên cho vợ chồng anh T4. Năm 2019, bố của anh T4 (ông Phạm Văn Q) tiến hành giao lại mảnh đất sang tên thẳng từ chủ sử dụng mang tên ông K, bà N cho cho vợ chồng anh T4, chị L. Tháng 4 năm 2021, anh T4 có mời cán bộ địa chính xã N về cắm mốc giới xây bờ bao để làm nhà ở trên thửa đất mà anh T4 là chủ sử dụng. Tuy nhiên, khi cán bộ địa chính bắn và đóng mốc giới hoàn tất thì ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T1 cho rằng một phần diện tích đất ở phía Tây Nam (giáp với đất của ông Q Thìn cũ) là đất của gia đình ông L1, bà T1. Cụ thể phần tranh chấp nằm ở phía Tây Nam của thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18 có diện tích 102,4m², chiều rộng giáp bờ đất của ông Quang T5 cũ là 16 mét, chiều dài giáp đất của ông H2 (anh ông L1) là 6,4 mét. Trong quá trình tranh chấp, các mốc giới được cán bộ địa chính đo đạc cố định bằng cọc bê tông đã bị anh em gia đình ông L1 nhổ phá hết. Đồng thời, ông L1 còn có những hành động dọa dẫm, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của vợ chồng anh T4, cản trở không cho vợ chồng anh T4 xây dựng cũng như sử dụng hết phần đất của anh T4. Vợ chồng anh T4, chị L đã gửi đơn khiếu nại, các giấy tờ căn cứ pháp lý liên quan lên Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để được giải quyết nhưng ông L1, bà T1 không
đồng ý với phán quyết của Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Do đó, anh T4, chị L khởi kiện yêu cầu ông L1, bà T1 phải tháo dỡ, di dời các cọc bê tông, thép gai trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp 102,4m² thuộc thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, tại xóm A cũ (nay là xóm G), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Trong quá trình đang tranh chấp thì gia đình ông L1 chuyển một ngôi mộ của người thân trong gia đình (không phải mộ ông H2) về chôn cất trên phần đất đang tranh chấp. Anh T4, chị L yêu cầu Tòa án buộc ông L1, bà T1 phải di dời đến nơi quy định để trả lại thửa đất cho anh T4, chị L sử dụng. Sau khi giải quyết tranh chấp được Tòa án giao quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh T4, chị L thì bên bị đơn ông L1, bà T1 phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng anh T4, chị L vì nó ảnh hưởng đến thửa đất ở của anh T4, chị L.
Phía bị đơn là ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Ông Vương Văn H2 là anh trai của ông L1 (khác họ là do lấy họ của cha mẹ nuôi), ông H2 có vợ là bà Trương Thị M, không sinh được con và nhận con gái vợ chồng ông L1, bà T1 là chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2001 làm con nuôi (hiện chị N đang lao động ở Nhật Bản). Bà Trương Thị M tâm thần không ổn định còn ông H2 là thương binh nặng và chết năm 2013. Khi ông H2 còn sống, vợ chồng ông L1, bà T1 thực hiện nghĩa vụ bảo trợ cho vợ chồng ông H2. Vào năm 2010, ông H2 chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị N khoảng 500m², ông L1 là người bảo trợ cho ông H2 nên cũng đứng ra để giao dịch với vợ chồng ông K. Tuy nhiên, vị trí đất chuyển nhượng hoàn toàn khác với vị trí đất mà vợ chồng ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cụ thể: Khi chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông K thì trừ đi phần đất phía sau khoảng hơn 100m² và phía trước thì giáp đường xóm nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại dịch vị trí chuyển nhượng đất về phía sau và phía trước lại trừ đi đường liên gia (giáp với đường xóm). Do đó, từ chỗ có giấy chứng nhận đất sai, ông K đã chuyển nhượng cho ba người khác, trong đó, có chuyển nhượng cho vợ chồng anh T4, chị L. Ngay sau khi ông K, bà N nhận chuyển nhượng đất, đã xây bờ tường gạch táp lô xung quanh phần đất đã chuyển nhượng nên vị trí đất đã cố định. Hiện bờ tường gạch táp lô của ông K xây cách một khoảng đất so với đất của ông Quang T5. Việc chuyển nhượng giữa ông K với anh T4, chị L, ông L1, bà T1 không rõ. Vợ chồng ông L1, bà T1 có nghĩa vụ bảo vệ tài sản của vợ chồng ông H2, nên ông, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T4, chị L.
Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn là ông Nguyễn Đình H và anh Mai Văn T3 khẳng định: Trong quá trình đang tranh chấp thì gia đình ông L1 chuyển một ngôi mộ của người thân trong gia đình (không phải mộ ông H2) về chôn cất trên phần đất đang tranh chấp để giữ đất, khi xây không báo cáo xin phép chính quyền địa phương, ông H và anh T3 cam kết khi nào Tòa án giải quyết xong vụ việc vùng đất thuộc về ai thì gia đình sẽ di chuyển ngôi mộ.
Kết quả xem xét, thẩm định chỗ và định giá tài sản ngày 03 tháng 12 năm 2021 thể hiện: Thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, tại xóm A (nay là xóm G), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 1389 dài 6,7 mét
và thửa đất số 1390 dài 6,7 mét; phía Đông giáp thửa đất số 1008, dài 6,4 mét + 24,89 mét; phía Nam giáp thửa đất số 1535 dài 13,33 mét và thửa đất số 1536 dài 2,67 mét; phía Tây giáp thửa đất số 1534 dài 10,54 mét.
Căn cứ bảng giá đất xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giai đoạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 ban hành kèm theo Quyết định số 54/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh N thì thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, tại xóm A (nay là xóm G), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có giá: Đất ở 500.000 đồng/m², đất vườn 58.000 đồng/m2. Căn cứ giá thị trường giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng tại khu vực thửa đất có giá: Đất ở 4.000.000 đồng/m², đất vườn 2.000.000 đồng/m².
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS-ST, ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 160; Điều 161; Điều 163; Điều 165; Điều 180; Điều 182; Điều 183; Điều 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015; tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Thanh T và chị Nguyễn Mỹ L; buộc ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị T1 phải di dời các công trình trên đất và trả lại cho anh Phạm Thanh T, chị Nguyễn Mỹ L diện tích đất 102,4m² tại thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18 tại xóm A cũ (nay là xóm G), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất còn lại của thửa đất số 1363 dài 16,40m; phía Nam giáp thửa đất số 1535 dài 13,33 mét và thửa đất số 1536 dài 2,67 mét; phía Tây giáp thửa đất số 1543 dài 6,35 mét và phía Đông giáp thửa đất số 1008 dài 6,40m (có sơ đồ phác họa phần diện tích đất kèm theo).
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, tuyên lãi suất chậm thi hành án, thỏa thuận thi hành án và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/8/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhận được đơn kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn L1 với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo;
Người đại diện hợp pháp cho bị đơn có kháng cáo trình bày: Bản án sơ thẩm giải quyết chưa đúng, căn cứ vào sơ đồ thì việc ông H2 chuyển nhượng cho ông K phía giáp với đất ông Quang T5 còn khoảng 100m², nhưng khi cấp GCNQSD đất cho anh T lại cấp sát với đất ông Quang T5 là đã lấn sang đất ông L1. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông L1, bác yêu cầu khởi kiện của anh T, chị L.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông L1 trình bày: Căn cứ hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông H2 đã chuyển nhượng diện tích đất sát với đất ông Quang T5, nhưng nếu như vậy thì ông L1 không còn lối đi vào nhà, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định cho hợp tình, hợp lý.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên đã giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, bảo đảm được quyền lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, tại cấp phúc thẩm không có tình tiết gì mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
- * Về tố tụng:
- [1] Về thẩm quyền và xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn là yêu cầu ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T1 phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất thuộc một phần thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, tại xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự; đương sự trong vụ án là chị Nguyễn Thị N tại thời điểm giải quyết đang cư trú ở nước ngoài, nên thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Do đó, mặc dù Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã thụ lý giải quyết, nhưng sau đó đã chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; Điều 37; Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng: Cấp sơ thẩm đã xác định nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đúng quy định của pháp luật; quá trình giải quyết vụ án một số đương sự vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt, hoặc đã có đơn xin xét xử vắng mặt, hoặc đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định tại Điều 227; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- * Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1, thấy:
- [3] Xét nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp thấy: Ông Vương Văn H2 là người được quyền sử dụng thửa đất số 48, tờ bản đồ số 09, diện tích 1.062m², trong đó, 200m² đất ở và 862m² đất vườn theo sổ mục kê và Giấy chứng nhận quyền sử dụng (sau đây gọi tắt là GCNQSD) đất số I 113738, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 256 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An cấp ngày 08/10/1997. Đến ngày 02/12/2010, vợ chồng ông Vương Văn H2 và bà Trương Thị M đã lập biên bản chuyển nhượng đất vườn ổn định cho vợ chồng ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị N diện tích 528m²; có tứ cận cụ thể như sau: Phía Nam giáp đất của ông H2, bà M; phía Đông giáp đường liên thôn; phía Bắc
giáp đất của bà Đ và phía Tây giáp đất của ông Quang T5. Ngày 12/02/2011, ông Vương Văn H2 có đơn xin tách thửa đất số 48 thành 02 thửa đất để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất vườn sang đất ở 200m² đối với thửa đất số 48. Ngày 14/02/2011, với sự tham gia của đại diện Ủy ban nhân dân xã N; bên chuyển nhượng ông Vương Văn H2 và bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn Văn K đã tiến hành kiểm tra, cắm mốc ngoài thực địa thửa đất số 48. Việc cắm mốc được lập thành biên bản, các bên tham gia ký và đóng dấu của Ủy ban nhân dân xã N. Sau khi tiến hành các thủ tục tách thửa và chuyển mục đích sử dụng đất, Ủy ban nhân dân xã N đã ban hành thông báo và tiến hành niêm yết kết quả tại Nhà văn hóa xóm A và trụ sở Ủy ban nhân dân xã trong vòng 10 ngày (từ ngày 16/02/2011 đến ngày 26/02/2011). Trong thời gian công khai, Ủy ban nhân dân xã N không nhận được ý kiến nào kiến nghị các nội dung và đã lập biên bản kết thúc công khai này. Ngày 20/7/2011, Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 1820/QĐ-UBND quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 670233 cho ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị N đối với thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, diện tích 506,0m², tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
[4] Sau khi nhận được cấp GCNQSD đất, ngày 23/7/2011, ông Nguyễn Văn K có đơn xin tách thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thành 03 thửa và đơn xin chuyển mục đích sử dụng từ đất vườn sang đất ở 281,4m². Tại Quyết định số 2804/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An đã quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị N; cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng mới cho ông K, bà N thuộc thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, diện tích 224,6m² (200m² đất ở, 24,6m² đất vườn gắn liền đất ở). Ngày 12/11/2019, vợ chồng ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị N ký hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng anh Phạm Thanh T và chị Nguyễn Mỹ L diện tích đất 224,6m² thuộc thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, với giá 30.000.000 đồng; hợp đồng đã được Ủy ban nhân dân xã N chứng thực cùng ngày. Ngày 27/12/2019, Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 811796 cho anh Phạm Thanh T và chị Nguyễn Mỹ L thuộc thửa đất số 1363, tờ bản đồ số 18, diện tích 224,6m², tại xóm A (nay là xóm G), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Như vậy, căn cứ hồ sơ quản lý đất đai thì anh Phạm Thanh T và chị Nguyễn Thị L3 là người được quyền sử dụng diện tích đất 224,6m² nêu trên; ông L1 cho rằng khi ông H2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn chừa lại khoảng 100m² phía sau giáp với đất ông Quang T5 là không có căn cứ và không xuất trình được chứng cứ để chứng minh. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị M và người đại diện của bà M khẳng định rằng, việc chuyển nhượng đất đã thực hiện xong, không còn liên quan gì, nên không có ý kiến gì đến yêu cầu khởi kiện của anh T, chị L3. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông L1, bà T1 cho rằng việc làm của ông L1, bà T1 là để giữ và chiếm đất cho gia đình ông H2 nhưng ông L1, bà T1 không được bà M, chị N
ủy quyền. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, chị L3 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tổng hợp các phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ toàn diện vụ án đảm bảo được quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự; tại cấp phúc thẩm không có thêm tình tiết gì mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[5] Án phí: Kháng cáo không được chấp nên người kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DS- ST ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà ông đã nộp tại biên lai số 0013096, ngày 04/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Xác nhận ông L1 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm |
Bản án số 60/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 60/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
