TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 23-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Bình;
- Ông Hoàng Văn Đoan.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Văn H, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1973 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn G, sinh năm 1949 và bà Vũ Thị B, sinh năm 1953; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 và 03 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22-4-2024 đến ngày 25-4-2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
- Người làm chứng: Ông Phạm Văn M, có mặt; bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị L1, anh Hoàng Hải Q và ông Hoàng Hữu D; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2009, Hoàng Văn H cùng vợ là Nguyễn Thị L đến ở nhờ trên thửa đất số 189, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng của vợ chồng ông Phạm Văn M, bà Phạm Thị H2 (là bạn của H). Đến năm 2019, do khó khăn về kinh tế H đã nảy sinh ý định lừa đảo, chiếm đoạt tài sản thông qua việc rao bán mảnh đất trên mặc dù không được vợ chồng ông M đồng ý. Do có nhu cầu về đất ở nên ông Phạm Văn H1 đến hỏi mua mảnh đất, H đã nói dối ông H1 là Giấy chứng nhận quyền sử dụng (Giấy chứng nhận) thửa đất số 189 đứng tên H và đang thế chấp tại A Chi nhánh T2. Do là người cùng xã, tin tưởng là thửa đất thuộc sở hữu của H nên vợ chồng ông H1 đồng ý chuyển nhượng thửa đất trên với giá 400.000.000 đồng. Vợ chồng ông H1 đã bốn lần giao tiền cho H tại nhà ông H1 và nhà H (lần đầu đặt cọc số tiền 180.000.000đ vào năm 2019, sau đó gia đình ông H1 chuyển đến mảnh đất trên để sinh sống còn vợ chồng H chuyển về nhà bố mẹ H ở; lần thứ 2, 3, 4 H yêu cầu ông H1 tiếp tục chuyển tiền với lý do để hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất với số tiền cụ thể: 20.000.000đ, 30.0000.000đ và 5.000.000đ đều vào năm 2021). Việc giao nhận tiền giữa vợ chồng ông H1 và H đều có bà Nguyễn Thị L chứng kiến. Tổng số tiền vợ chồng ông H1 đã giao cho H là 235.000.000 đồng, việc giao nhận tiền có viết giấy tờ biên nhận nhưng hiện vợ chồng ông H1 chưa tìm thấy, số tiền còn thiếu vợ chồng ông H1 sẽ chuyển đủ khi H giao Giấy chứng nhận. Sau khi nhận số tiền 235.000.000 đồng, H đã trả nợ cho con trai là Hoàng Hải Q 70.000.000 đồng nhưng không nói cho Q biết về nguồn gốc số tiền, còn lại H dùng tiêu xài cá nhân hết.
Do nhiều lần yêu cầu H làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không thấy H thực hiện. Đến ngày 30-5-2022, ông H1 đến gặp H để tiếp tục yêu cầu giao Giấy chứng nhận thì được H thông báo thửa đất trên không thuộc quyền sử dụng của H, do khó khăn về kinh tế nên đã lừa bán chiếm đoạt tiền của ông H1. H đã viết biên nhận xác nhận về việc đã nhận số tiền 235.000.000 đồng của ông H1. Ngày 21-6-2022, ông H1 làm đơn trình báo lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, giao nộp xác nhận nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 188/KL-KTHS ngày 23-8-2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chữ viết trong đơn xác nhận do H viết cho ông H1 gọi là mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết người mang tên Hoàng Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người viết ra. Chữ ký, chữ viết mang
tên Hoàng Văn H trên mẫu cần giám định, ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết mang tên Hoàng Văn H trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người viết ra. Hai dấu vân tay in trên Đơn xác nhận vụ việc ký hiệu A với các dấu vân tay in trên Biên bản thu mẫu chữ ký/dấu vân tay ký hiệu M2 mang tên Hoàng Văn H, sinh năm 1973, nơi thường trú: Xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng là của cùng một người”.
Tại Công văn trả lời số 988/CV-CNVPĐ KĐĐ ngày 26-9-2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận: Nguồn gốc thửa đất số 189, tờ bản đồ số 4, tại thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng được cấp cho ông Phạm Văn S, bà Lê Thị B1. Ngày 5-8-2008, ông S, bà B1 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Phạm Văn M, bà Phạm Thị H2. Ngày 31-12-2008, ông M, bà H2 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với mảnh đất trên. Đến thời điểm hiện tại thửa đất trên chưa làm thủ tục đăng ký biến động.
Ông Phạm Văn M và bà Pham Thị H2 thống nhất trình bày: Ông bà cho H ở nhờ, không đồng ý và không biết việc H bán thửa đất số 189 cho ông H1.
Bà Nguyễn Thị L trình bày: Khi cùng Hoàng Văn H về ở trên thửa đất từ năm 2009, bà được H cho biết nguồn gốc thửa đất trên là do H được ông Hoàng Hữu D (em trai của H) cho, khi H bảo bán đất trả nợ bà không biết thửa đất số 189 không thuộc sở hữu của H; bà không được hưởng lợi từ việc chiếm đoạt số tiền của ông H1.
Ông Hoàng Hữu D trình bày: Ông không sở hữu thửa đất số 189, tờ bản đồ số 04, không biết việc chuyển nhượng đất giữa H và ông H1.
Bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 15-8-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và trình bày: Năm 2009 khi vợ chồng bị cáo về ở trên thửa đất số 189 của vợ chồng ông M, bà H2 thì bị cáo đã nói dối vợ (bà Nguyễn Thị L) đó là mảnh đất của ông Hoàng Hữu D (em trai bị cáo) cho nên khi gia đình cần tiền bị cáo nói sẽ bán đất để trả nợ, bà L không có ý kiến gì. Số tiền chiếm đoạt được của ông H1, bị cáo trả nợ cho con trai là Hoàng Hải Q 70.000.000 đồng nhưng không nói cho Q biết nguồn gốc số tiền này; còn lại bị cáo tiêu xài cá nhân hết; bà L không quản lý và sử dụng số tiền bị cáo chiếm đoạt của vợ chồng ông H1. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
để bị cáo sớm được trở về đi làm kiếm tiền bồi thường cho vợ chồng ông H1, bà T 235.000.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị hại là ông Phạm Văn H1, bà Lê Thị Hồng T thống nhất trình bày: Do là hàng xóm nên ông bà tin tưởng với thông tin do bị cáo đưa ra về việc bị cáo là chủ sở hữu thửa đất 189, tờ bản đồ 04; đã đồng ý chuyển nhượng thửa đất này và đã đưa tiền cho bị cáo 4 lần, tổng là 235.000.000 đồng. Việc thỏa thuận, bàn giao tiền mua bán đất giữa ông bà và bị cáo đều có sự chứng kiến của vợ bị cáo. Đến nay bị cáo chưa bồi thường nên ông bà đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho ông bà số tiền đã nhận là 235.000.000 đồng; đồng thời xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật.
Những người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa.
Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 3, Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn H mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22-4-2024. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với Hoàng Văn H.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc Hoàng Văn H phải bồi thường cho ông Phạm Văn H1, bà Lê Thị Hồng T 235.000.000 đồng.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về người tham gia tố tụng: Người làm chứng (bà Phạm Thị H2, bà Phạm Thị L1, ông Hoàng Hữu D1, anh Hoàng Hải Q) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.
- Về tội danh và hình phạt:
[4] Lời khai của bị cáo Hoàng Văn H tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; biên bản bắt người đang bị truy nã, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối về việc bị cáo là chủ sử dụng thửa đất số 189, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng với mục đích chuyển nhượng để chiếm đoạt số tiền 235.000.000 đồng của vợ chồng ông Phạm Văn H1, bà Lê Thị Hồng T.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[5] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; cần phải áp dụng hình phạt nghiêm,
cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[7] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Xét căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo là thỏa đáng.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Phạm Văn H1, bà Lê Thị Hồng T yêu cầu bị cáo phải bồi thường 235.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên. Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 235.000.000 đồng.
[10] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[11] Về vấn đề khác: Trong vụ án này còn có Nguyễn Thị L, Hoàng Hải Q; quá trình điều tra chưa triệu tập được Q, chưa đủ căn cứ xác định L và Q đồng phạm tội với bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách vụ án theo Quyết định số 546/QĐ-CQĐT ngày 10-7-2024, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là đúng theo quy định pháp luật.
[12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 3 Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn H 08 (T1) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 22-4-2024.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Hoàng Văn H.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự,
Buộc bị cáo Hoàng Văn H phải bồi thường cho bị hại là ông Phạm Văn H1, bà Lê Thị Hồng T 235.000.000 (Hai trăm ba mươi lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc Hoàng Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.750.000 (Mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo Hoàng Văn H, bị hại là ông Phạm Văn H1 và bà Lê Thị Hồng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Hải - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
