Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HSST

Ngày: 25-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí.
Ông Đặng Văn Vững.
– Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Phan Sâm Rin – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày: 06/11/2000.

Tên gọi khác: H.

Nơi thường trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Chế Thị B; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 06/02/2023 của Công an xã P, huyện C, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa nộp phạt). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Trần Thị Út N, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Võ Hoàng Đ, sinh năm: 1999 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  3. Hà Chí N1, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  4. Trần Phương T1, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
  5. Nguyễn Văn P, sinh năm: 1996 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Đặng Hoài T2, sinh năm: 1986 (vắng mặt).
    Cư trú: ấp K, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  2. Phạm Thị Thúy H2, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
    Cư trú: 5 S, Phường A, Quận A, Tp ..
  3. Thiều Khắc P1, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
  4. Nguyễn Văn P2, sinh năm: 1998 (vắng mặt).
    Cư trú: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng T là người không có nghề nghiệp, do cần tiền để tiêu xài cá nhân, nên vào khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 02/4/2024 T điều khiển xe mô tô loại Wave màu đỏ, gắn biển số giả 52Z2-5251 đi tìm tài sản lấy trộm. Khi T đi đến nhà anh Nguyễn Văn P, thuộc ấp M, xã P, huyện C, T đột nhập vào nhà anh P, lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số: 62M1-669.69. Sau đó, T đậu xe Wave ở bụi cây ven đường rồi điều khiển xe trộm đến chốt bảo vệ công trình xây dựng khu dân cư T ở xã L, huyện C, gặp anh Nguyễn Văn P2. Tui nói dối với P2 là xe mô tô bị hư nên nhờ P2 chở T đi lấy xe. Sau đó, P2 điều khiển xe mô tô vừa trộm được chở T đi lấy xe Wave, rồi P2 về chốt bảo vệ tiếp tục làm việc. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, T gặp P2 trên đường đi làm về nên nhờ P2 đi gửi xe Exciter ở Bệnh viện C rồi P2 chở T về nhà. Qua truy xét, Cơ quan Công an mời Tui về làm việc, T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại MXKing, màu đỏ đen, biển số: 62M1-669-69 (xe mô tô đã thu hồi được, tại thời điểm mất trộm vẫn còn hoạt động bình thường), trị giá 19.333.000 đồng (mười chín triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng).

Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Hoàng T còn 04 lần lấy trộm tài sản là xe mô tô trên địa bàn huyện C, cụ thể:

Lần thứ nhất:

Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 23/02/2024, tại nhà chị Trần Thị Út N, thuộc Ấp C, xã P, huyện C, T lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại RSX, biển số: 62M1-909.45 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số: 62M1-115.54. Sau khi trộm xe, T lấy biển số giả 59U1-012.11 gắn vào xe mô tô Wave RSX và Tui cho anh Nguyễn Văn P2 mượn xe này làm phương tiện đi lại, riêng xe Wave S Tui đem bán phế liệu cho anh Thiều Khắc P1 được 500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, biển số: 62M1-909.45 (xe mô tô đã thu hồi được, tại thời điểm mất trộm vẫn còn hoạt động bình thường), trị giá 10.333.000 đồng (mười triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng); 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại hai bánh, màu đỏ đen, biển số: 62M1-115.54 (xe mô tô chưa thu hồi được, tại thời điểm mất trộm vẫn còn hoạt động bình thường), trị giá 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng).

Lần thứ hai:

Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 26/3/2024 tại vĩa hè khu dân cư T, thuộc Ấp D, xã L, huyện C, T lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Kozata, biển số: 63X2-8214 của anh Võ Hoàng Đ. Sau khi lấy xe, T lấy biển số giả 52Z2-5251 gắn vào rồi làm phương tiện đi lại (sử dụng làm phương tiện đi lại thực hiện vụ trộm ngày 02/4/2024 bị phát hiện).

Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Kozata, loại nữ, màu đỏ đen xám, biển số: 63X2-8214 (xe mô tô đã thu hồi được, tại thời điểm mất trộm vẫn còn hoạt động bình thường), trị giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng).

Lần thứ ba:

Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 27/3/2024, tại công trường xây dựng cặp bờ kênh thuộc ấp D, xã L, huyện C, T lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, biển số: 94D1-486.75 của anh Hà Chí N1. Sau khi lấy xe, T tháo biển số xe này ném bỏ rồi cất giấu xe tại nhà ở Ấp C, xã P, huyện C.

Kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, biển số: 94D1-486.75 (xe mô tô đã thu hồi được, tại thời điểm mất trộm vẫn còn hoạt động bình thường), trị giá 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

Lần thứ tư:

Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 29/3/2024, tại ấp T, xã P, huyện C, T lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển số: 62X1-7960 của anh Trần Phương T1 đậu trong sân nhà. Sau khi lấy xe, T tháo biển số xe này ném bỏ rồi cất giấu xe tại nhà ở Ấp C, xã P, huyện C.

Kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu đen cam, biển số: 62X1-7960 (Xe mô tô đã thu hồi được, tại thời điểm mất trộm vẫn còn hoạt động bình thường), trị giá 7.333.000 đồng (bảy triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 60/CT-VKSCG ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tang vật thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại MXKing, màu đỏ đen, biển số: 62M1-669-69 cho anh Nguyễn Văn P, 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S (không biển số) cho anh Trần Phương T1, 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại W (không biển số) cho anh Hà Chí N1, 01 (một) xe mô tô hiệu Kozata (không biển số) cho anh Võ Hoàng Đ, 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX (không biển số) cho chị Trần Thị Út N, là phù hợp.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Út N nhận 01 xe mô tô, còn 01 xe mô tô không thu hồi được yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.500.000 đồng. Trước yêu cầu của bị hại Út N, bị cáo đồng ý, đề nghị ghi nhận. Bị hại Võ Hoàng Đ, Hà Chí N1, Trần Phương T1Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường, đề nghị không xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T khai nhận là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên trong khoảng thời gian từ ngày 23/02/2024 đến ngày 02/4/2024, T đã liên tục 05 lần thực hiện hành vi trộm tài sản là xe mô tô trên địa bàn huyện C, cụ thể: Lần thứ 1: ngày 23/02/2024 Tui lén lút lấy trộm 02 xe mô tô của chị Nguyễn Thị Út N2, trị giá 15.833.000 đồng. Lần thứ 2: Ngày 26/3/2024 T3 lén lút lấy trộm 01 xe mô tô của anh Võ Hoàng Đ, trị giá 2.500.000 đồng. Lần thứ 3: Ngày 27/3/2024, Tui lén lút lấy trộm 01 xe mô tô của anh Hà Chí N1, trị giá 8.000.000 đồng. Lần thứ 4: Ngày 29/3/2024, Tui lén lút lấy trộm 01 xe mô tô của anh Trần Phương T1, trị giá: 7.333.000 đồng. Lần thứ 5: Ngày 02/4/2024 Tui lén lút lấy trộm 01 xe mô tô của anh Nguyễn Văn P, trị giá: 19.333.000 đồng. Nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và trong khoảng thời gian ngắn (01 tháng 09 ngày) đã thực hiện cùng một hành vi trộm cắp tài sản năm lần, nên thuộc trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại theo các kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C thì tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 52.999.000 đồng (năm mươi hai triệu chín trăm chín mươi chín ngàn đồng). Do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp định khung hình phạt là “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương.

Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo năm lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và giá trị tài sản của mỗi lần chiếm đoạt đều trên mức định lượng, là tình tiết tăng nặng là “Phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi được phần lớn để hoàn trả cho bị hại, nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy hiện bị cáo đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp và áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[8] Đối với Nguyễn Văn P2, là người được bị cáo cho mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave RSX, là tài sản do trộm cắp vào ngày 23/02/2024 để làm phương tiện đi lại và ngày 02/4/2024 còn có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 62M1-699.69 đi gửi tại bệnh viện C, nhưng anh Nguyễn Văn P2 hoàn toàn không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có và anh Thiều Khắc P1, là người có hành vi mua một xe mô tô biển số 62M1-115.54, nhưng anh Thiều Khắc P1 cũng không biết xe trên là tài sản do trộm cắp mà có, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý, là phù hợp.

[9] Về tang vật thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại MXKing, màu đỏ đen, biển số: 62M1-669-69 cho anh Nguyễn Văn P, 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S (không biển số) cho anh Trần Phương T1, 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại W (không biển số) cho anh Hà Chí N1, 01 (một) xe mô tô hiệu Kozata (không biển số) cho anh Võ Hoàng Đ, 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX (không biển số) cho chị Trần Thị Út N, là phù hợp. Đối với anh Đặng Hoài T2 là người đứng tên xe mô tô 63X2-8214, nhưng theo hồ sơ thể hiện đã bán xe cho anh Võ Hoàng Đ và chị Phạm Thị Thúy H2 là người đứng tên xe mô tô biển số 59U1-012.11, nhưng theo hồ sơ thể hiện đã bán xe, nên không xem xét.

[10] Về trách nhiệm dân sự: hiện bị hại Võ Hoàng Đ, Hà Chí N1, Trần Phương T1Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản bị mất, tại phiên tòa tất cả đều vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục 194-195; 200-201; 204-205; và 207-208) không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét. Riêng bị hại Trần Thị Út N bị bị cáo T chiếm đoạt hai xe mô tô, trong đó thu hồi được xe mô tô biển số 62M1-909.45, còn xe mô tô biển số 62M1-115.54 không thu hồi được, tại phiên tòa chị Út N vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 188) yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.500.000 đồng. Trước yêu cầu của bị hại Út N, bị cáo đồng ý, nên ghi nhận.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền còn phải bồi thường cho bị hại là 5.500.000 đồng theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/4/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Thị Út N số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: bị cáo T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Cần Giuộc, ngày 25 tháng 7 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 25 tháng 7 năm 2024.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Chí.

Ông Đặng Văn Vững.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS, ngày 10/7/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Hoàng Tui.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Tui phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về hình phạt:

Xử phạt: Nguyễn Hoàng Tui 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 06/4/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Các vấn đề khác:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589; Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Tui có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Thị Út Nhỏ số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: bị cáo Tui phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 15 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

NGUYỄN MINH CHÍ – ĐẶNG VĂN VỮNG

CHỦ TỌA

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 60/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger