Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông

Thẩm phán: Ông Trần Vĩnh Yên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Ngọc Sương

Bà Cao Thị Én

Ông Kiều Minh Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐXXST-HS ngày 11/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo:

Ngô Đức T, giới tính: Nam. Tên gọi khác: T1. Sinh năm 1998 tại: Đồng Nai. CCCD số : [...] cấp ngày 12/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: như trên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: công giáo. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: không. Tiền án, tiền sự: không. Họ và tên cha: Ngô Văn S, sinh năm 1961. Họ và tên mẹ: Lê Thị T2, sinh năm 1961. Vợ : Sinh sống với chị Phạm Thị Mai A, sinh năm 1998 như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn) và có 01 con chung sinh năm 2023. Bị can bị bắt tạm giam ngày 04/03/2023, theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 12/LB ngày 01/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Hải L – Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh Đ (có mặt).

- Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu H (1981). Địa chỉ: Ấp A, xã B, TP ., tỉnh Đồng Nai (có mặt);
  2. Ông Hoàng Văn S1 (1991). Địa chỉ: Ấp N, xã T, H . T, tỉnh Đồng Nai (có Đơn xin xét xử vắng mặt);
  3. Ông Trần Thế L1 (1981). Địa chỉ: Ấp T, xã X, H . X, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);
  4. Ông Thẩm Thành L2 (1989). Địa chỉ: Tổ A, ấp E, xã S, H . C, tỉnh Đồng Nai (có Đơn xin xét xử vắng vắng mặt);
  5. Ông Đinh Phong  (1992). Địa chỉ: Ấp B, xã X, H . X, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Ngọc T3 (1992). Địa chỉ: Ấp T, xã X, H . X, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);
  2. Ông Ngô Thanh H1 (1985). Địa chỉ: Ấp C, xã B, TP ., tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);
  3. Bà Bùi Thị T4 (1977). Địa chỉ: Ấp E, xã X, H. X, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt);
  4. Bà Lê Thị T2 (1961). Địa chỉ: Ấp T, xã X, H . X, tỉnh Đồng Nai (có Đơn xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài, vào khoảng tháng 04/2022, Ngô Đức T đã dùng thủ đoạn đặt cọc số tiền 20.000.000 đồng cho anh Lại Văn T5, sinh năm 1975, nơi thường trú: ấp T, xã X, X, Đồng Nai để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất số 260, 261, tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai với giá 800.000.000đ, hẹn trong vòng 01 tháng sẽ trả đủ số tiền còn lại. Sau đó, T đặt cọc tiếp số tiền 50.000.000đ cho anh Lê Kim L3, sinh năm: 1977, nơi thường trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 237, tờ bản đồ số 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai với giá 1.000.000.000 đồng, hẹn trong vòng 01 tháng sẽ trả đủ số tiền còn lại. Cả 03 thửa đất trên Thuận chỉ mới đặt cọc và lập giấy đặt cọc, chưa trả đủ tiền và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Sau khi đặt cọc, T sử dụng hợp đồng đặt cọc rao bán 03 thửa đất trên và nhờ đối tượng trên mạng xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 260, 261, tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai và 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 316 và 318 tờ bản đồ số 88, thuộc ấp P, xã S, huyện X để đem đi bán và cầm cố lấy tiền tiêu xài. Cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào ngày 05/6/2022, T thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa đất số 260, 261, 237 tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho anh Thẩm Thành L2, sinh năm 1989, nơi thường trú: ấp E, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai với giá 1.850.000.000 đồng. Từ ngày 05/6/2022 đến ngày 10/6/2022, anh L2 đặt cọc cho T số tiền 600.000.000 đồng, cụ thể, ngày 05/6/2022, anh L2 giao cho T 200.000.000 đồng, vào các ngày 06/6/2022, 08/6/2022, 09/6/2022, anh L2 nhờ đồng nghiệp là anh Lê Sỹ Q, sinh năm 1976, nơi thường trú: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai chuyển khoản từ số tài khoản 5914215013355 mở tại Ngân hàng A1 của anh Q đến số tài khoản 27969697979 mở tại Ngân hàng M của T số tiền lần lượt là 100.000.000đ, 100.000.000₫ và 200.000.000đ. Ngày 10/6/2022, T giao cho anh L2 giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH202211 thửa đất số 306, tờ bản đồ số 19, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai mang tên bà Lê Thị T2 (mẹ T) để làm tin theo hợp đồng đặt cọc. Sau khi nhận số tiền 600.000.000 đồng của anh L2, T không sử dụng để làm thủ tục chuyển nhượng 03 thửa đất trên cho anh L2 mà dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Khoảng tháng 12/2022 (không rõ ngày), do không có tiền để trả cho anh L2 và nhằm che dấu hành vi lừa đảo nên T đã viết cho anh L2 01 Giấy vay nợ đề ngày 05/9/2022 thể hiện việc nợ anh L2 số tiền 1.320.000.000đ (bao gồm tiền bồi thường đặt cọc 1.200.000.000₫ và tiền lãi 120.000.000₫ do T tự tính từ ngày 05/9/2022 là ngày vi phạm hợp đồng đến ngày viết Giấy vay nợ), đồng thời T thế chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH202211 cấp cho thửa đất số 306, tờ bản đồ số 19, xã X, huyện X đã giao cho anh L2 trước đó, cam kết đến ngày 31/01/2023 sẽ trả đủ tiền cho anh L2 nhưng đến nay T vẫn chưa trả.

- Vụ thứ hai: Thông qua anh Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1992, nơi thường trú: khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai giới thiệu, T biết anh Trần Thế L1, sinh năm 1981, nơi thường trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa đất số 260, 261, 237 tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên đã gặp, thỏa thuận với anh L1. T nói đã mua lại 03 thửa đất trên và đã có giấy đặt cọc. Sau khi thỏa thuận, anh L1 đồng ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng cả 03 thửa đất trên với giá 2.100.000.000đ và đặt cọc số tiền 200.000.000đ. Ngày 07/6/2022, T và anh L1 ký hợp đồng đặt cọc, anh L1 đưa tiền mặt 100.000.000đ cho T và chuyển 100.000.000₫ vào số tài khoản của T số 27969697979 mở tại Ngân hàng M1, hẹn ngày 17/6/2022 đặt cọc thêm 100.000.000₫ và hẹn đến ngày 21/8/2022 sẽ trả đủ số tiền còn lại. Ngày 13/6/2022, anh L1 nhờ anh T3 chuyển 100.000.000đ vào số tài trên của T theo hợp đồng đặt cọc. Sau khi nhận tổng tiền cọc là 300.000.000 đồng, T trả cho anh T3 số tiền 30.000.000đ tiền môi giới, sử dụng 10.000.000đ để đặt cọc thêm cho anh T5, còn lại dùng để trả nợ và sử dụng vào mục đích cá nhân.

Còn đối với anh Lại Văn T5 và anh Lê Kim L3, T nói với anh T5, anh L3 chưa đủ tiền mua đất nên xin kéo dài thời gian đặt cọc, anh L3 và anh T5 tưởng thật nên đồng ý, anh L3 đã lập lại hợp đồng đặt cọc cho T ghi ngày 26/5/2022 (thời hạn đặt cọc là 90 ngày); anh T5 lập lại hợp đồng đặt cọc ghi ngày 05/6/2022 (thời hạn đặt cọc là 30 ngày), đồng thời, T nhờ ghi số tiền đặt cọc lớn hơn trên hợp đồng so với thực tế (100.000.000đ đối với anh T5 và 400.000.000đ đối với anh L3) để dễ dàng tiếp tục lừa đảo rao bán các thửa đất.

- Vụ thứ ba: Thông qua chị Bùi Thị T4, sinh năm 1977, nơi thường trú: ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giới thiệu, T biết anh Hoàng Văn S1, sinh năm 1991, nơi thường trú: khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đang có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên T giới thiệu 03 thửa đất số 260, 261, 237 tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho anh S1. Sau khi thỏa thuận, anh S1 đồng ý nhận chuyển nhượng cả 03 thửa đất trên với giá 2.050.000.000đ. Ngày 25/6/2022, T tiến hành lập hợp đồng đặt cọc tại xã X, huyện X. Anh S1 đã nhờ chị T4 ký hợp đồng đặt cọc với T và anh S1 đã chuyển số tiền 400.000.000 đồng vào số tài khoản của T số 27969697979 mở tại Ngân hàng M1. Sau khi nhận số tiền cọc 400.000.000₫ T đưa cho chị T4 50.000.000đ tiền môi giới, còn lại T sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân.

- Vụ thứ tư: Khoảng giữa tháng 07/2022, thông qua anh Ngô Thanh H2, sinh năm 1985, nơi thường trú: ấp C, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giới thiệu, T biết chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1981, nơi thường trú: ấp A, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa đất số 260, 261, 237, tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. T thỏa thuận với chị H sẽ chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa đất trên với giá 1.650.000.000đ, đề nghị chị H đặt cọc trước 400.000.000đ cho T trong thời hạn 03 tháng. Chị H yêu cầu khi nào T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới nhận chuyển nhượng. T đã nói với anh H2 và chị H 02 thửa đất số 260 và 261, tờ bản đồ 26 đã sang tên T; còn thửa số 237, tờ bản đồ 26 thì T đã làm thủ tục sang tên, hiện đang đợi sổ.

Để chị H tin tưởng và đặt cọc tiền cho mình, T đã nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng của 02 thửa đất số 260 và 261, tờ bản đồ 26, thuộc xã X. Thông qua mạng xã hội, T liên hệ người có tài khoản mạng xã hội Zalo “Phúc An” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để đặt làm 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đối với hai thửa đất số 260 và 261, tờ bản đồ 26 mang tên T với giá 20.000.000 đ và 1.000.000đ tiền giao hàng. Sau khi nhận được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số BI850601 và CA753485, T đã chụp ảnh gửi cho chị H. Vào ngày 29/7/2022, T dẫn chị H đi coi đất sau đó lập hợp đồng đặt cọc tại một quán cà phê (không rõ địa chỉ). Tại đây, T đưa 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên cho anh H2 và chị H xem, tin là thật nên chị H ký hợp đồng đặt cọc và chuyển tiền cọc 400.000.000đ vào số tài khoản của T là 27969697979 (Ngân hàng M). Sau khi nhận được 400.000.000đ tiền cọc của chị H, T chuyển khoản cho anh H2 số tiền 32.000.000đ tiền môi giới, còn lại T dùng để trả nợ và tiêu xài hết.

Cùng thời điểm giữa tháng 07/2022, chị Bùi Thị Tuyết n hỏi T 03 thửa đất trên đã chuyển nhượng sang T chưa sao lại thấy vẫn rao bán trên mạng xã hội, lúc này T đã nhận được 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số BI850601 và CA753485 nên T đã chụp ảnh gửi cho chị T4 để chị T4 gửi cho anh Hoàng Văn S1 xem. Đồng thời, T giao 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CA753485 cho anh Nguyễn Ngọc T3 để anh T3 chụp ảnh gửi cho anh Trần Thế L1. Mục đích của T là để anh S1 và anh L1 tin tưởng.

- Vụ thứ năm: Vào khoảng đầu năm 2022, T quen biết chị Bùi Thị Mỹ D, sinh năm 1984, nơi thường trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đang muốn chuyển nhượng quyền sử dụng hai thửa đất số 316 và 318, tờ bản đồ số 88 thuộc ấp P, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên T hỏi để nhận chuyển nhượng và hẹn một tuần sau đưa tiền và sang tên. Lúc này, T có mượn của chị D 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất trên đi photo. Sau khi photo xong, T trả lại cho chị D. Sau đó, do T không có tiền đặt cọc nên chị D không chuyển nhượng 02 thửa đất trên cho T nữa.

Khoảng cuối tháng 07 năm 2022, T có quen biết một người tên S2 (chưa rõ nhân thân lai lịch) qua mạng xã hội, đang định cư ở nước ngoài. Biết người này có nhu cầu muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên T đã giới thiệu 02 thửa đất số 316 và 318, tờ bản đồ số 88 thuộc ấp P, xã S, huyện X. Do người này không muốn nhận chuyển nhượng qua nhiều người nên T nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất trên để cho S2 tin tưởng mà chuyển tiền cho T. Do đó, vào ngày 30/07/2022, T đã tiếp tục liên hệ người có tài khoản Zalo tên “Phúc An” để đặt làm 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của 02 thửa đất số 316 và 318, tờ bản đồ số 88 thuộc ấp P, xã S với giá 20.000.000₫ và 1.000.000₫ tiền giao hàng. Sau khi nhận 02 (hai) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số BK036280 và BK036281, T chụp hình gửi cho S2 xem nhưng người này muốn về Việt Nam để trực tiếp xem đất nên chưa đặt cọc tiền cho T.

Trong thời gian này, do nợ nần nhiều nên T nảy sinh ý định đem 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số 316 và 318, tờ bản đồ số 88 thuộc ấp P, xã S cho anh Đinh Phong Á, sinh năm 1992, nơi thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để vay số tiền 700.000.000đ với lãi suất 6%/tháng, thời hạn vay 02 tháng. Anh Á yêu cầu T phải lập hợp đồng chuyển nhượng tài sản thế chấp có công chứng, nếu trong 02 tháng T không hoàn trả nợ thì anh Á sẽ làm thủ tục sang tên. T lấy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của 02 thửa đất số 316 và 318, tờ bản đồ số 88 thuộc ấp P, xã S đưa cho anh Á để lập hợp đồng chuyển nhượng và vay số tiền trên. Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 11/8/2022 T cùng anh Á đến Văn phòng công chứng Ngô Thị H3, địa chỉ: khu phố E, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất trên. Tại đây, chị Lê Thị Thanh N - nhân viên Văn phòng công chứng đã phát hiện 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 02 thửa đất số 316 và 318, tờ bản đồ số 88 thuộc ấp P, xã S mà T đưa cho anh Á là giả nên đã trình báo Cơ quan Công an.

Qua điều tra Cơ quan Công an đã khởi tố đối với Ngô Đức T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” để điều tra, xử lý. Quá trình điều tra T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Các giấy tờ, tài liệu Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 05/6/2022, giữa Ngô Đức T với anh Thẩm Thành L2 (được lưu hồ sơ vụ án).
  • 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 25/6/2022, giữa Ngô Đức T với anh Hoàng Văn S1 (được lưu hồ sơ vụ án).
  • 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Ngô Đức T với chị Nguyễn Thị Thu H (được lưu hồ sơ vụ án).
  • 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 07/5/2022, giữa Ngô Đức T với anh Trần Thế L1 (được lưu hồ sơ vụ án).
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số BI850601, mang thông tin thửa đất số 261, tờ bản đồ số 26, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (được lưu hồ sơ vụ án).
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CA753485, mang thông tin thửa đất số 260, tờ bản đồ số 26, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (được lưu hồ sơ vụ án).
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số BK036280, mang thông tin thửa đất số 316, tờ bản đồ số 88, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (được lưu hồ sơ vụ án).
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số BK036281, mang thông tin thửa đất số 318, tờ bản đồ số 88, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (được lưu hồ sơ vụ án).

Vật chứng của vụ án: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, màu tím, có gắn sim số 0528782879 thu giữ của Ngô Đức T sử dụng vào việc phạm tội.

Tại Bản kết luận giám định số: 1911/KL-KTHS ngày 23/9/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận đối với 04 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thu giữ của Ngô Đức T, như sau:

  • Chữ ký mang tên Lê Thanh T6; Nguyễn Ngọc T7; Nguyễn Thị Cát T8 trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) so với chữ ký mang tên Lê Thanh T6; Nguyễn Ngọc T7; Nguyễn Thị Cát T8 tương ứng trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M12) không phải do cùng một người ký ra.
  • Hình dấu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường - tỉnh Đ; Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) so với hình dấu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường - tỉnh Đ; Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai tương ứng trên các tài liệu được nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M12) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Ngô Đức T đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 40.000.000đ, còn lại 360.000.000đ chị H yêu cầu T bồi thường cùng lãi suất theo quy định của Ngân hàng N1; Anh Thẩm Thành L2 yêu cầu T bồi thường số tiền 600.000.000₫ do; anh Trần Thế L1 yêu cầu bồi thường số tiền 300.000.000đ; anh Hoàng Văn S1 yêu cầu bồi thường số tiền 400.000.000đ. Anh Đinh Phong Á không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên Quyết định định truy tố tại Bản cáo trạng số 11/CT-VKS-P2 ngày 11/01/2024 truy tố: bị cáo Ngô Đức T từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự và từ 03 (ba) đến 05 (năm) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự;

- Vị luật sư bào chữa cho bị cáo và bị cáo Ngô Đức T có ý kiến cho rằng việc chiếm đoạt số tiền 600.000.000₫ (sáu trăm triệu đồng) của bị hại Thẩm Thành L2 (vụ thứ nhất theo Cáo trạng truy tố) mang tính dân sự vì anh L2 biết nguồn gốc đất bị cáo bán và sau khi tìm hiểu thì anh L2 tự mua; nêu lên các tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định nội dung vụ án như sau:

Để có tiền tiêu xài, Ngô Đức T đã dùng thủ đoạn đặt cọc mua 02 thửa đất số 260, 261, tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh ĐồngNai của anh Lại Văn T5 và đặt cọc mua thửa đất số 237, tờ bản đồ số 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai của anh Lê Kim L3, sau đó dùng giấy đặt cọc để rao bán cho nhiều người và đặt mua của đối tượng (chưa rõ lai lịch) trên mạng xã hội làm giả 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 260, 261 tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để đưa cho bị hại tin tưởng giao tiền và bị T chiếm đoạt tiền tiêu xài, đồng thời T đặt mua của đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) trên mạng xã hội làm giả 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 316 và 318 tờ bản đồ số 88, thuộc ấp P, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai đem đi thế chấp để vay tiền.

Từ ngày 05/6/2022 đến ngày 11/8/2022, Ngô Đức T đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại, cụ thể như sau: Chiếm đoạt số tiền 600.000.000 đồng của anh Thẩm Thành L2, chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng của anh Trần Thế L1, chiếm đoạt số tiền 400.000.000 đồng của anh Hoàng Văn S1 và chiếm đoạt số tiền 400.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thu H. Tổng cộng là 1.700.000.000 đồng. Vào ngày 11/8/2022, khi T đang thực hiện việc chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng của anh Đinh Phong Á thì bị phát hiện nên T chưa chiếm đoạt được.

[3] Về tội danh:

Hành vi nêu trên của bị cáo Ngô Đức T là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm quyền sở hữu về tài sản và xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; gây mất trật tự, trị an tại địa phương và có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

+ Bị cáo Ngô Đức T đã có hành vi gian dối để các bị hại tin tưởng giao tiền cho bị cáo và bị cáo cũng thừa nhận tại phiên tòa sơ thẩm là dùng số tiền chiếm đoạt được vào mục đích tiêu xài cá nhân, chứ không phải “dùng vào việc mua bán” như bị cáo khai nại đối với việc chiếm đoạt tiền của anh Thẩm Thành L2 (vụ thứ nhất như cáo trạng truy tố) và thực tế tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 1.700.000.000₫ (một tỷ bảy trăm triệu đồng) nên hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định điểm a (số tiền chiếm đoạt trên 500.000.000đ) thuộc khoản 4 Điều 174 BLHS là có căn cứ như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã viện dẫn;

- Ngoài ra, hành vi bị cáo sử dụng giấy tờ giả vào chiếm chiếm đoạt tài sản còn phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã viện dẫn;

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo đã bồi thường được số tiền 40.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thị Thu H; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình Ngô Đức T đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 40.000.000đ, còn lại 360.000.000₫ chị H yêu cầu T bồi thường; Anh Thẩm Thành L2 yêu cầu T bồi thường số tiền 600.000.000đ; anh Trần Thế L1 yêu cầu bồi thường số tiền 300.000.000đ; anh Hoàng Văn S1 yêu cầu bồi thường số tiền 400.000.000đ.

Do đó, căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Ngô Đức T có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại theo quy định của pháp luật.

[7] Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, màu tím, có gắn sim số 0528782879 thu giữ của Ngô Đức T sử dụng vào việc phạm tội.

[8] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra có thu giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, màu tím, có gắn sim số 0528782879 thu giữ của Ngô Đức T sử dụng vào việc phạm tội. do đó, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công.

[9] Đối với các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Đinh Phong Á cho Ngô Đức T vay tiền với lãi suất 6%/tháng (tương đương 72%/năm) vượt quá quy định của Bộ luật dân sự, có dấu hiệu vi phạm hành chính quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi năm 2020) Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi và tài liệu liên quan của Đinh Phong Á trong vụ án hình sự và chuyển cho Công an huyện X xử lý theo thẩm quyền.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, vị luật sư bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng đã được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Ngô Đức T 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Ngô Đức T phải chấp hành 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2023.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận và buộc bị cáo Ngô Đức T phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại như sau:

  • Bị cáo Ngô Đức T phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thu H số tiền 360.000.000đ (ba trăm sáu mươi triệu đồng);
  • Bị cáo Ngô Đức T phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Thẩm T số tiền 600.000.000₫ (sáu trăm triệu đồng);
  • Bị cáo Ngô Đức T phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trần Thế L1 số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng);
  • Bị cáo Ngô Đức T phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Hoàng Văn S1 số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng);

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động Iphone 11, màu tím, có gắn sim số 0528782879 thu giữ của Ngô Đức T sử dụng vào việc phạm tội.

(Hiện Cục Thi hành án dân sự đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 16/01/2024)

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Đức T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 63.000.000₫ (sáu mươi ba triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì quyền kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Đồng Nai;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo – Trại tạm giam B5;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Phương Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Để có tiền tiêu xài, vào khoảng tháng 04/2022, Ngô Đức T đã dùng thủ đoạn đặt cọc số tiền 20.000.000 đồng cho anh Lại Văn T5, sinh năm 1975, nơi thường trú: ấp T, xã X, X, Đồng Nai để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất số 260, 261, tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai với giá 800.000.000đ, hẹn trong vòng 01 tháng sẽ trả đủ số tiền còn lại. Sau đó, T đặt cọc tiếp số tiền 50.000.000đ cho anh Lê Kim L3, sinh năm: 1977, nơi thường trú: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 237, tờ bản đồ số 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai với giá 1.000.000.000 đồng, hẹn trong vòng 01 tháng sẽ trả đủ số tiền còn lại. Cả 03 thửa đất trên Thuận chỉ mới đặt cọc và lập giấy đặt cọc, chưa trả đủ tiền và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất. Sau khi đặt cọc, T sử dụng hợp đồng đặt cọc rao bán 03 thửa đất trên và nhờ đối tượng trên mạng xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 260, 261, tờ bản đồ 26 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai và 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 316 và 318 tờ bản đồ số 88, thuộc ấp P, xã S, huyện X để đem đi bán và cầm cố lấy tiền tiêu xài. Cụ thể như sau:
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger