|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HS-PT Ngày 25/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Việt Hoàng;
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hòa; Ông Ngô Xuân Ninh;
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Hùng Hoàng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: bà Thân Thanh Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Văn H và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo H, K, H1, H2, Q và kháng cáo của người đại diện cho bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
*Bị cáo:
-
Ngô Văn H, sinh năm 1991; HKTT: Thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô văn H3, sinh năm 1961 và bà Đào Thị V, sinh năm 1964; gia đình có 05 anh, chị em bị cáo là con thứ năm; Vợ: Vũ Thị Thúy H4, sinh năm 1994; Con có 02 con; con lớn sinh năm 2014; con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự : Không
Nhân thân:
-
+ Tại bản án số 68/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1, Điều 248 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Chấp hành xong án phí ngày 26/4/2017. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 08/7/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B.
-
-
Hoàng Văn K1 (Hoàng Văn M), sinh năm 1991; HKTT: Thôn E, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q1, sinh năm 1961 và bà Hoàng Thị O, sinh năm 1960; gia đình có 03 anh, chị em bị cáo là con thứ ba; Vợ: Trần Thị H5, sinh năm 1997; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2018
Tiền án, tiền sự : Không
Nhân thân:
-
+ Tại bản án số 64/2011/HSST ngày 20/12/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1, Điều 194 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/5/2015. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 20/6/2016.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B.
-
-
Ngô Thị O1, sinh năm 2000; HKTT: Thôn E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H6, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; gia đình có 04 chị em bị cáo là con thứ nhất; chồng, con chưa có.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
Hiện đang tại ngoại; Có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
-
Ngô Văn H7, sinh năm 1989; HKTT: Thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn H8, sinh năm 1961 và bà Đào Thị V, sinh năm 1964; gia đình có 05 chị em bị cáo là con thứ tư; Vợ: Đoàn Thị P, sinh năm 1991 đã ly hôn; con có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B.
-
Hoàng Văn H9, sinh năm 1985; HKTT: Thôn H, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Đỗ Thị H10, sinh năm 1987; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
Hiện đang tại ngoại; Có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
-
Bùi Thanh H11, sinh năm 2005.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; HKTT: Thôn 1, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình dộ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1983 và bà Ngô Thị H12, sinh năm 1984; Gia đình có 03 chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng, con: Chưa có
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B.
-
Ngô Văn Q2, sinh năm 2001; HKTT: Thôn G, xã L, huyện T, TP Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Văn T1, sinh năm 1981 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1982; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B.
* Người bị hại:
-
Anh Nguyễn Việt U, sinh năm 2003; HKTT: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (đã chết).
* Người đại diện cho người bị hại có kháng cáo:
-
Ông Nguyễn Văn H13, sinh năm 1966 (Bố đẻ của Nguyễn Việt U); HKTT: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích cho người bị hại:
-
Ông Phạm Văn L1, luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư thành phố H, có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
- Anh Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1992; HKTT: Số A, ngách A L, phường Đ, quận H thành phố Hà Nội; vắng mặt không có lý do.
-
- Ông Ngô Văn H6, sinh năm 1977; HKTT: Thôn E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do.
-
- Chị Hoàng Thị T2, sinh năm 1978; HKTT: Thôn H, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 12/2023, do không có công ăn việc làm nên Ngô Văn H rủ Ngô Văn H7, Ngô Văn Q2, Ngô Thị O1, Hoàng Văn K1, Bùi Thanh H11 và Hoàng Văn Hà H14 rủ các đối tượng trên cùng đến thuê trọ của gia đình anh Cung Quang T3 ở tại: Khu M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để ở cùng nhau và lên kế hoạch lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác bằng hình thức đánh bài "bịp". Sau đó, các đối tượng thống nhất phân công O1 và H11 vào các nhóm hẹn hò trên mạng xã hội Facebook để tìm kiếm, làm quen với những người đàn ông có nhu cầu hẹn hò rủ đến phòng trọ chơi tham gia đánh bài rồi sử dụng các cách đánh bài “bịp” để chiếm đoạt tài sản. Để có tiền vốn thực hiện thủ đoạn của mình, H14 thỏa thuận mỗi đối tượng trong nhóm đóng góp số tiền 20.000.000 đồng để trả tiền nhà trọ và dùng để đánh bài "bịp" với người chơi.
Sau đó, O1 sử dụng tài khoản "Ann Yêuu" vào các nhóm hẹn hò của mạng xã hội Facebook kết bạn và nhắn tin với anh Nguyễn Việt U có tài khoản “Minh Uyên”. Đến tối ngày 13/12/2023, O1 nhắn tin Facebook rủ anh U đến phòng trọ chơi, anh U đồng ý và hẹn tối ngày 14/12/2023 sẽ đến chơi. Lúc này, H14 biết là O1 đã "câu" được khách nên phân công H7 đóng vai chủ nhà, H10, Hiệp đóng vai bạn của H7, H11, O1 dẫn anh U vào phòng trọ chơi, K1 đóng vai là người mua bán xe làm nhiệm vụ nhận cầm đồ của anh U, Q2 đứng ở ngoài để cảnh giới. H14 sẽ chuẩn bị 02 bộ bài tú lơ khơ được sắp xếp vị trí các quân bài từ trước, K1 sẽ là người đổi bài. Để rủ anh U tham gia đánh bài thì O1, H11 sẽ chủ động khởi xướng việc đánh bài dưới hình thức đánh sâm. Sau đó O1 sẽ rủ anh U sang chơi cùng. Một lúc sau H11 sẽ rủ các đối tượng chuyển sang đánh bài dưới hình thức đánh liêng để thực hiện thủ đoạn đổi bài, chiếm đoạt tài sản của anh U.
Để anh U tin tưởng các đối tượng đánh những ván đầu có thắng có thua. Chơi được khoảng 10 phút theo kế hoạch cho O1 và anh U thắng trước tạo niềm tin cho anh U nên O1 lấy một miếng hoa quả đút cho anh U ăn để che mắt tạo điều kiện cho K1 đưa cho H14 bộ tú lơ khơ đã được xếp sẵn thay thế bộ cũ. Sau khi đổi bài, H14 chia cho O1 03 quân 9, là bài to nhất trong các bài tại ván này. O1 bỏ ra 1.000.000 đồng để đặt cược và rủ U chung vốn 2.000.000 đồng để đặt cược, anh U đồng ý nhưng do không có tiền mặt nên đã chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng cho K1 để lấy 2.000.000 đồng tiền mặt. Sau đó anh U đặt cược chung với O1 và thắng được số tiền 3.000.000đồng, O1 đưa cho anh U 2.500.000 đồng (gồm 2.000.000 đồng tiền anh U bỏ ra và 500.000 đồng tiền O1 cho). Sau ván bài này thì anh U cầm bài thay cho O1 và các đối tượng tiếp tục đánh bài bình thường. Cũng với thủ đoạn trên, K1 đã đưa bộ bài tú lơ khơ được sắp xếp còn lại để H11 chia bài. Ván bài này, H11 chia cho anh U 03 quân Q, chia cho H14 03 quân K, chia cho H7 02 quân A, 01 quân K. Để tạo cho anh U niềm tin tỷ lệ người khác có 03 quân K là rất thấp và anh U chắc chắn thắng ván bài này, H7 đã hạ bài của mình gồm 02 quân A, 01 quân K xuống cho anh U xem. Vì tin tưởng mình sẽ thắng nên anh U đã đặt cược số tiền 2.500.000 đồng thì H14 và H10 liên tục tố thêm tiền nên anh U nhắn tin cho anh Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1992; HKTT: SỐ A, Ngách A L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội là chủ chỗ làm anh U bảo chuyển cho U số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản của anh Nguyễn Việt U. Khi này, H14 và H10 tiếp tục đặt cược thêm tiền nên anh U đặt vấn đề cầm cố xe mô tô BKS 18L1-62831, 01 điện thoại Iphone 12 promax thì K1 đồng ý nhận cầm cố xe mô tô và điện thoại trên của anh U với tổng số tiền 39.000.000đồng, anh U đồng ý cầm cố tài sản nhận số tiền trên và đã sử dụng toàn bộ tiền để đặt cược. Tổng số tiền anh U đặt cược ván bài là 80.500.000 đồng (Trong đó tiền của anh U bỏ ra là 80.000.000 đồng và 500.000 đồng là tiền anh U được O1 cho). Sau đó do anh U hết tiền nên đề nghị mở bài để phân định thắng, thua, ván bài này H14 cầm 03 quân K nên đã thắng 03 quân Q của anh U và thắng bộ số tiền anh U đặt cược. Sau đó do anh U hết tiền nên cả nhóm không chơi. Lúc này, K1 yêu cầu U phải viết giấy bán xe mô tô và điện thoại với giá 39.000.000 đồng (trong đó 37.000.000 đồng là tiền mà anh U cầm cố điện thoại và xe mô tô; 2.000.000 đồng là tiền lãi trong 3 ngày); đồng thời K1 bảo nếu sau 3 ngày không trả lại K1 39.000.000 đồng thì sẽ bán tài sản của anh U, còn H14, O1, H11 tìm lý do đi ra ngoài. Q2 từ ngõ đi vào nhà trọ ngồi trông anh U viết giấy bán xe cho K1. Sau khi anh U viết xong giấy bán xe thì giao điện thoại, xe máy, giấy đăng ký xe và căn cước công dân cho K1. K1 thì viết số điện thoại 0356.812.xxx vào một mảnh giấy đưa cho anh U để liên lạc chuộc xe. Sau đó, H14 nói phải đi có việc và bảo K1 đưa anh U ra đường thuê xe về thì K1 nhờ Q2 chở U ra đường thuê xe đi về. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Q2 điều khiển xe mô tô BKS: 18L1-62831 chở anh U ra Quốc lộ A thuộc khu G, phường P, thị xã Q và đưa cho anh U số tiền 500.000 đồng để thuê xe taxi đi về. Sau đó, Q2 điều khiển xe mô tô về phòng trọ và nhắn tin lên nhóm Z thông báo cho cả nhóm biết đã cho anh U số tiền 500.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được của anh U chuyển khoản cho K1 là 41.000.000 đồng (bốn mươi mốt triệu đồng). K1 chuyển toàn bộ số tiền này cho H14. Sau khi nhận tiền H14 trừ tiền mua đồ ăn uống hết 1.000.000 đồng và 500.000 đồng tiền cho U, còn lại 39.500.000 đồng H14 chia cho O1 số tiền 7.000.000 đồng (gồm 6.000.000 đồng tiền chia và cho thêm 1.000.000 đồng vì đã dẫn được anh U đến); Chia cho Q2, H10, K1 mỗi người 5.900.000 đồng; cho H11 và H7 mỗi người 5.700.000 đồng còn lại 3.400.000 H14 giữ lại chi tiêu đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario BKS: 18L1-62831 của anh U, H14 để lại tại phòng trọ làm phương tiện đi lại cho cả nhóm còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax Hiệp giao cho Q2 tạm giữ chờ anh U quay lại chuộc tài sản. Ngày 16/12/2023, do K1 bị bệnh thủy đậu nên các đối tượng H14, O1, K1, T, Q2, H7, H10 cùng di chuyển ai về nhà đấy.
Đến ngày 18/12/2023, anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; HKTT: Tổ C cụm D phường N, quận T, thành phố Hà Nội đến Công an phường N, quận T trình báo về việc phát hiện xác chết là nam giới trên sông H thuộc khu vực phường N. Cùng ngày, Công an quận T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi xác định nạn nhân là anh Nguyễn Việt U.
Đến ngày 19/12/2023, các đối tượng H14, K1, O1, H11, Q2, H7, H10 đã đến cơ quan CSĐT Công an quận T, thành phố Hà Nội đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh U.
Quá trình làm việc với cơ quan CSĐT Công an thị xã Q Ngô Văn H, Hoàng Văn K1, Ngô Thị O1, Ngô Văn H7, Hoàng Văn H9, Bùi Thanh H11 và Ngô Văn Q2 đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Việt U với nội dung như trên.
Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2024/HS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã Tuyên bố các bị cáo Ngô Văn H, Hoàng Văn K1, Ngô Thị O1, Ngô Văn H7, Hoàng Văn H9, Bùi Thanh H11 và Ngô Văn Q2 đã phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", theo điểm a, c khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 50 (Năm mươi) tháng tù; xử phạt bị cáo Hoàng Văn K1 48 (Bốn mươi tám) tháng tù; xử phạt bị cáo Ngô Văn H7 30 (Ba mươi) tháng tù; xử phạt bị cáo Bùi Thanh H11 28 (Hai mươi tám) tháng tù; xử phạt bị cáo Ngô Văn Q2 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù; xử phạt bị cáo Ngô Thị O1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; xử phạt bị cáo Hoàng Văn H9 34 (Ba mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05/7/2024, đại diện của bị hại là ông Nguyễn Văn H13 kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo, không có O1 và H9 được hưởng án treo. Vào các ngày 6,9,10/7/2024, các bị cáo N1, Ngô Văn H, Ngô Văn H7, Hoàng Văn K1, Ngô Văn Q2 và Bùi Thanh H11 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Người đại diện của bị hại ông Nguyễn Văn H13 thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H, H7, K1, Q2, H11, O1 và H9 thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như bản án sơ thẩm đã xét xử là đúng. Các bị cáo khai nhận, H là người chủ mưu, phân công các bị cáo và lên kế hoạch dùng thủ đoạn lên mạng xã hội kết bạn sau đó lừa “đánh bài bịp” để chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Việt U. Số tiền chiếm đoạt các bị cáo chia nhau sau đó chi tiêu cá nhân hết. Các bị cáo đều xác định Tòa án cấp sơ thẩm tuyên các bị cáo phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 là đúng, không oan. Tuy nhiên, các bị cáo H, H7, K1, Q2, H11 đều cho rằng hình phạt mà án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị cáo O1 và H9 xin lỗi gia đình bị hại và mong gia đình bị hại tha thứ. Bị cáo O1 giao nộp cho HĐXX biên lai thu tiền tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh số tiền 60 triệu đồng. Bị cáo trình bày, đây là số tiền bị cáo khắc phục thêm cho gia đình bị hại, không phải là tiền bồi thường thiệt hại cho các bị cáo khác.
Các bị cáo H, H7, K1, Q2, H11 trình bày gia đình các bị cáo đã nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại theo bản án sơ thẩm tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh nhưng không cung cấp được Giấy biên lại thu tiền cho HĐXX. Bị cáo Q2 và K1 trình bày đã nộp cho B1 giám thị trại tạm giam. HĐXX đã hỏi giám thị trại tam giam công an tỉnh B và được xác nhận là bị cáo Q2 và K1 đã nộp B2 lại thu tiền của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, mỗi bị cáo 6.400.000 đồng. Các bị cáo khác không cung cấp được tài liệu gì chứng minh đã nộp phạt theo bản án sơ thẩm.
Người đại diện của bị hại ông Nguyễn Văn H13 trình bày: Số tiền 60 triệu đồng bị cáo O1 nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để khắc phục thêm cho gia đình ông, ông không nhận. Ông kháng cáo là để làm rõ bản chất vụ án chứ không phải là để tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo. Vụ án xét xử sơ thẩm còn nhiều mâu thuẫn, có vi phạm nên đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (VKS) thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích các căn cứ xác định tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, K1, H7, Q2, H11. Giữ nguyên mức hình phạt mà tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo. Đối với thay đổi nội dung kháng cáo của người đại diện cho bị hại yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, VKS đánh giá cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố, xét xử đúng pháp luật. Không có căn cứ hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Các bị cáo không có tranh luận gì với đại diện của VKS, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và bỏ lọt tội phạm, cụ thể:
-
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS có khung hình phạt tù lên đến 20 năm, chung thân thuộc thẩm quyền điều tra, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh. Việc xác định thẩm quyền xét xử theo tội danh chứ không theo khung hình phạt. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm thẩm quyền xét xử.
-
- Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ có dấu hiệu làm sai lệch hiện trường vụ án và không đúng với tình tiết khách quan. Các bị cáo thuê nhà, ở tại đó nhưng khi khám xét chỉ thu giữ được 02 bộ bài là chưa đầy đủ; không giám định vân tay trên bộ bài là thiết sót. Các bị cáo khai, chiếc xe máy của anh U để ở sân nhà trọ nhưng hiện trường thể hiện nhà không có sân, như vậy lời khai có mâu thuẫn với hiện trường. Ngoài các điện thoại di động của các bị cáo bị tịch thu sung ngân sách nhà nước thì các bị cáo còn sử dụng xe mô tô để làm phương tiện đi lại, nhưng các cơ quan tố tụng không xử lý tịch thu sung ngân sách nhà nước là chưa phù hợp. Thời gian tiếp nhận đầu thú, thu giữ điện thoại, lập biên bản niêm phong, tiến hành lấy lời khai là khám xét chỗ ở, dẫn giải các bị can có vi phạm về thời gian. Khi khám xét, có mời công an phương chứng kiến là không đúng, lẽ ra phải mời UBND phường mới có thẩm quyền chứng kiến. Luật sư cũng đưa ra những vi phạm như chưa làm rõ thức ăn trong bữa ăn của các bị cáo và anh U tối ngày 14/12/2023 là thiếu sót.
-
- Bị cáo Q2 khai khi gặp người lái xe Taxi, Q2 có hỏi có chở khách về Hà Nội không, nhưng người lái xe Taxi lại khai là hỏi có chở về cầu V không, như vậy, lời khai không thống nhất. Về số tiền trả taxi cũng không phù hợp. Người lái xe taxi khai, nói với anh U là giá từ Bắc Ninh về Hà Nội là 450.000 đồng, chưa bao gồm phí đường, nhưng khi anh U trả 500.000 đồng thì người lái xe taxi không đòi thêm là mâu thuẫn, vì tiền phí đường bộ từ Bắc Ninh về Hà Nội phải nhiều hơn 50.000 đồng.
-
- Về việc Công an quận T trả lại chiếc xe máy của anh U cho gia đình anh U là không đúng. Vì anh U đã viết giấy bán xe cho K1, lẽ ra phải trả xe cho K1 và buộc K1 trả tiền cho gia đình anh U.
-
- Về nội dung, Luật sư cho rằng, cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm: Các bị cáo đã có hành vi đánh bài ăn tiền, nhưng cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm không xử lý tội đánh bạc là bỏ lọt tội phạm. Khi anh U viết giấy bán xe cho K1, nhưng K1 lại lấy cả điện thoại của anh U là có dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản. Hơn nữa, các bị cáo cho U thời hạn 03 ngày để chuộc lại xe máy và điện thoại, lẽ ra phải xử lý bị cáo tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản trên cơ sở định giá xe máy và điện thoại, chứ không phải trên cơ sở số tiền thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.
Từ những phân tích trên, Luật sư đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vụ án.
Người đại điện cho bị hại đồng ý với nội dung tranh luận của Luật sư và không bổ sung gì thêm.
Đại diện VKS tranh luận với Luật sư: Về thẩm quyền cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng pháp luật. Các bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại số tiền 80.000.000 đồng thuộc khoản 2 Điều 174 BLHS, có khung hình phạt lên đến 07 năm tù, nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện.
Về những vi phạm của cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm mà Luật sư đưa ra không có căn cứ; vi phạm không nghiêm trọng làm thay đổi bản chất vụ án nên không thuộc trường hợp hủy để điều tra lại. Lời khai các bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sao kê chuyển khoản, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã đủ căn cứ để xét xử các bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản như Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng.
Việc xử lý vật chứng, cơ quan công an quận T, thành phố Hà Nội trả lại cho gia đình anh U gồm giấy tờ tùy thân, tài sản, điện thoại, xe máy là đúng quy định của pháp luật. Gia đình bị hại là các bị cáo cũng không có ý kiến gì về vấn đề này.
Về ý kiến bỏ lọt tội Đánh bạc và Trộm cắp tài sản là không có căn cứ, vì hành vi đánh bạc của các bị cáo với bị hại và phân công K1 đóng vai người cầm cố tài sản là phương thức, thủ đoạn mà các bị cáo sử dụng để gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Giữ bị cáo K1 và anh U cũng thỏa thuận số tiền cầm cố chiếc xe máy và điện thoại là 37 triệu và 2 triệu đồng lãi trong 03 ngày để anh U chuộc lại. Việc bị cáo buộc anh U viết giấy bán xe với số tiền 39 triệu là thủ đoạn để chiếm đoạt số tiền đã cho anh U vay để đánh bạc. Do đó, quan điểm của Luật sư xác định số tiền chiếm đoạt phải dựa trên định giá chiếc xe mô tô và bỏ lọt tội phạm là không có căn cứ.
Về cái chết của anh U, CQĐT Công an quận T đang điều tra, giải quyết theo thẩm quyền, trong phạm vi xét xử vụ án này chỉ liên quan đến tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bản án sơ thẩm cũng đã nhận định vấn đề này.
Từ những phân tích trên, VKS đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Luật sư tranh luận lại với VKS, việc xác định thẩm quyền xét xử là theo tội danh chứ không theo khung hình phạt. Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hình phạt lên đến 20 năm, chung thân nên phải là Tòa án cấp tỉnh xét xử. Các quan điểm khác Luật sư bảo lưu, không tranh luận lại.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
-
Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các bị cáo H, H7, K1, Q2, H11 và ông H13 là người đại diện cho bị hại có kháng cáo hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
-
Về tội danh, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử là đúng. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các đồng phạm, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Các đối tượng gồm: Ngô Văn H chủ mưu cùng với Hoàng Văn K1, Ngô Thị O1, Ngô Văn H7, Hoàng Văn H9, Bùi Thanh H11 và Ngô Văn Q2 đã bàn bạc, lên kế hoạch và cấu kết với nhau có hành vi dùng thủ đoạn gian dối dưới hình thức "đánh bài bịp" để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 14/12/2023, tại phòng thuê trọ, các bị cáo đã lừa đảo của anh Nguyễn Văn U1 số tiền 80.000.000 đồng dưới hình thức „đánh bài bịp và cầm cố tài sản”. Sau đó các đối tượng chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Do vậy, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo bị cáo H, H7, K1, H11, H7, Q2, O1 và H9 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
-
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo H, H7, K1, H11, Q2, HĐXX thấy: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo H7, H11, H không đưa ra được căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; các bị cáo K1, Q2 cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ đã nộp biên lai thu tiền bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại theo bản án sơ thẩm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy, với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thì hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp, không nặng. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo như đề nghị của VKS là phù hợp.
-
Đối với kháng cáo của người đại diện của hại:
-
Về tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện của bị hại kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo và không cho bị cáo O1, H9 được hưởng án treo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của bị hại thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại. Các bị cáo không bị kháng nghị tăng nặng hình phạt. Do đó, cấp phúc thẩm không xem xét.
-
Đối với kháng cáo hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, HĐXX thấy:
-
Về quan điểm của luật sư về cấp sơ thẩm bỏ loạt tội phạm đánh bạc và trộm cắp tài sản của các bị cáo là không có căn cứ. Các bị cáo đã bàn bạc, dàn dựng, phân công việc “đánh bài bịp” mục đích là để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của hại hại. Các bị cáo cũng đóng vài, phân công K1 giả làm người cầm cố tài sản để cho anh U1 vay tiền sau đó viết bán xe mục đích là chiếm đoạt tiền của anh U1. Đây là phương thức, thủ đoạn của tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
-
Về ý kiến Tòa án cấp sơ thẩm không có thẩm quyền xét xử tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, HĐXX thấy, các bị cáo bị xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 174 BLHS là đúng pháp luật. Luật sư cho rằng, Tòa án nhân dân cấp huyện không được xét xử tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là không đúng quy định của Điều 268 BLTTHS.
-
Về xử lý vật chứng: Công an quận T, thành phố Hà Nội đã trả lại các tài sản, xe mô tô, giấy tờ tuy thân, thẻ ngân hàng của anh U1 cho gia đình anh U1, gia đình anh U1 đã nhận lại và không có ý kiến gì; các bị cáo và những người liên quan cũng không có ý kiến gì nên quyết định xử lý vật chứng của công an quận T là phù hợp. Việc Luật sư cho rằng, các bên đã viết giấy bán xe nên gia đình bị hại phải trả xe cho bị cáo K1 và nhận lại tiền bán xe là không có căn cứ, vì đây là thủ đoạn của các bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại.
-
Những vi phạm tố tụng khác mà Luật sư nêu ra trong phần tranh luận là không có căn cứ; không thuộc các trường hợp hủy bản án sơ thẩm điều tra lại như tranh luận của VKS là phù hợp.
-
Về lời khai của các bị cáo đã nộp số tiền bồi thường cho bị hại tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để thi hành bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tài liệu gì chứng minh. Bị cáo K1 và Q2 khai đã nộp cho giám thị trại tạm giam công an tỉnh B, qua trao đổi, trại tam giam công an tỉnh B có xác nhận đã nhận của 02 bị cáo K1 và Q2 biên lai thu tiền đảm bảo thi hành án của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, nên HĐXX xem xét để áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo K1 và Q2.
-
Về số tiền 60.000.000 đồng bị cáo O1 nộp tại Cục Thì hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để khắc phục thêm cho bị hại, tại phiên tòa, ông H13 (bố của anh U1) từ chối nhận số tiền này. Tuy nhiên, xét thấy, bản án sơ thẩm đã tuyên các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 41.000.000 đồng. Do đó, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo O1 có quyền yêu cầu các bị cáo chưa bồi thường phải hoàn lại cho bị cáo O1 số tiền phải bồi thường theo bản án sơ thẩm đã tuyên.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét.
-
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo H, H7, K1, H11, Q2 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356, Bộ luật tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Văn H, Hoàng Văn K1, Ngô Văn H7, Bùi Thanh H11 và Ngô Văn Q2; Không chấp nhận kháng cáo của đại diện của bị hại, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo.
-
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo K1 và Q2; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 50 (Năm mươi) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K1 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn H7 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
Xử phạt bị cáo Bùi Thanh H11 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn Q2 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Ngô Thị O1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
Giao bị cáo O1 cho UBND xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H9 34 (Ba mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
Giao bị cáo H9 cho UBND xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Quyết tạm giam các bị cáo Ngô Văn H, Hoàng Văn K1, Ngô Văn H7, Bùi Thanh H11, Ngô Văn Q2 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 16/9/2024 để đảm bảo thi hành án.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Các bị cáo Ngô Văn H, Hoàng Văn K1, Ngô Văn H7, Bùi Thanh H11 và Ngô Văn Q2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 60/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 60/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGO VAN H VS DONG PHAM PHAM TOI LUA DAO CHIEM DOAT TAI SAN
