|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HSPT Ngày: 17/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng
Ông Phạm Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 02/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Mai Công M do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 107/2023/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo: Mai Công M, sinh năm 1982 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: Khu phố L, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: thợ sơn nước; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Mai T (sinh năm 1942) và bà Đoàn Thị M1 (đã chết); đã ly hôn vợ là Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1981) và có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt giam giữ từ ngày 11/3/2023 đến ngày 30/3/2023, bắt lại từ ngày 22/11/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22h30 phút ngày 10/3/2023, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã B kiểm tra quán Karaoke “C" thuộc ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện quản lý quán là Nguyễn Phi L và nhân viên phục vụ Trần Đức H chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; phát hiện, bắt quả tang 02 vụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, như sau:
Khoảng tháng 3/2023, Nguyễn Phi L thuê quán karaoke “Cẩm Hồng” giá 20.000.000 đồng/tháng từ Lê Duy K (sinh năm 1992, trú tại: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Do quán ít khách, L đã cho khách vào hát và sử dụng ma túy; thu 220.000 đồng/giờ với khách hát bình thường, 250.000 đồng - 300.000 đồng/giờ với khách sử dụng ma túy tại quán. L để Trần Đức H – là nhân viên của quán tiếp đón khách, đăng ký phòng, mang nước uống, trái cây, chỉnh nhạc cho khách và đưa các dụng cụ để sử dụng ma túy (dĩa, thẻ nhựa) khi khách có nhu cầu, đồng thời canh lực lượng Công an để báo cho khách đang sử dụng ma túy nhằm tránh việc bị phát hiện và thu tiền. Ngày 09/3/2023, L cho Mai Công M, Nguyễn Đức T2, Nguyễn Tùng D sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 5 của quán. Tính đến ngày 10/3/2023, L đã để H phục vụ dĩa sứ, thẻ nhựa và mở nhạc cho 04 lượt khách sử dụng ma túy tại quán.
Vụ thứ nhất: khoảng 19h00' ngày 10/3/2023, Nguyễn Bá T3 điều khiển xe mô tô Attila màu đỏ, biển số 68M6-2818 chở Giang Tuyết N (sinh năm 2000, trú tại: 4 P, phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) đến hát tại Phòng số 3 quán Karaoke 'C". T3 dùng tài khoản Zalo tên “Cu Trường” gọi vào tài khoản Zalo tên “Minh Lai” của Trần Minh L1 (sinh năm 1994, trú tại: thôn T, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) rủ L1 đến chơi. Khoảng 21h00' cùng ngày, L1 chở Châu Ngọc M2 (sinh năm 2000, trú tại: xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đến. T3 nói Trần Đức H lấy thêm một dĩa sứ và thẻ nhựa mang vào phòng hát. Trường R, L1, M2 sử dụng ma túy; và cả nhóm đồng ý. T3 dùng hai vỏ điếu thuốc lá và tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn lại làm ống hút rồi lấy ma túy khay được gói trong tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bỏ vào tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng “nấu” lên rồi đổ ra dĩa sứ. T3 dùng thẻ nhựa chia ma túy thành 07 đường rồi T3, N, L1 và M2 sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã B bắt quả tang và thu giữ tang vật gồm: 01 dĩa sứ màu trắng; 01 ống hút được làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, bên ngoài có bọc bằng vỏ giấy thuốc lá điếu; 01 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng có số seri: PV9866275; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng có số seri: DW7185251; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, số IMEI: 355435971455323 của Nguyễn Bá T3 gắn số thuê bao: 0898523468; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng, số IMEI: 3567162530077 gắn số thuê bao: 0867102030 và 0813102030 của Trần Minh L1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro màu xanh, số IMEI: 353103645285391 của Nguyễn Phi L; 01 xe mô tô hiệu Attila biển số 68M6-2818( số máy: VMVTBB-D025113, số khung: RLGKA12HDAD025133); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ, không biển số ( số máy: JK01E0495595355, số khung RLHJK00PZ403309)
Theo phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 11/3/2023 đối với Nguyễn Bá T3, Giang Tuyết N, Trần Minh L1, Châu Ngọc M2 đều dương tính với chấy ma túy loại Methamphetamine.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 15 giờ ngày 10/3/2023, Mai Công M điều khiển xe máy Honda cup 50, biển số 72AF-03719 đến nhà trọ “Trọng Đức” thuộc ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ) ngồi chơi với Nguyễn Tùng D và Nguyễn Đức T2. Lúc này, Nguyễn Phi L đi bộ đến chơi. Tại đây T2 hỏi L “quán có khách không ?”, L trả lời”Không, quán ế lắm”; T2 nói “ quán mà ế thì giảm giá đi, quán mới có khách”; L trả lời “Chắc vậy”. Nghe vậy M hỏi L “ có qua quán chơi được không ?” ( nghĩa là có vô quán để sử dụng ma túy được không). L nói “vô chơi thì vô” (nghĩa là đồng ý cho sử dụng ma túy tại quán) rồi L đi về lại quán Karaoke “C”. M nói T2 “giờ kiếm 3.100.000 đồng ở đâu, em còn tiền trong tài khoản không”. T2 nói trong tài khoản của T2 còn tiền, riêng tiền của M còn 1.000.000 đồng; đồng thời T2 nói D “chịu tiền phòng đi, đang giảm giá kìa” nhưng D không nghe nên không trả lời. M sử dụng điện thoại di động hiệu N2 (không nhớ số thuê bao, sim không chính chủ) gọi điện cho một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 01 bịch ma túy loại khay và 1.5 viên ma túy loại thuốc lắc với giá 3.100.000 đồng rồi hẹn khoảng 17 giờ cùng ngày thì đưa ma túy đến quán Karaoke “Cẩm H1” cho M. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, M sử dụng tài khoản mạng xã hội zalo “Phú Quý C” nhắn tin số tài khoản số 76110000619184 của ngân hàng B1 rồi nói Trung chuyển 3.100.000 đồng vào tài khoản trên để mua ma túy. T2 lấy 1.000.000 đồng của M đang gửi trong tài khoản của mình và ứng trước cho M mượn thêm 2.100.000 đồng để mua ma túy. Khoảng 17 giờ cùng ngày, M điều khiển xe máy hiệu Honda Cup 50 biển số 72AF-03719 đến khu vực trước quán K1 'C” thì người đàn ông đi xe ô tô 07 chỗ (không nhớ biển số) ném bịch ma túy loại khay và 1.5 viên thuốc lắc màu hồng đậm xuống đất cho M. Khi M, T2 và D đi vào phòng số 5 thì đã có sẵn 01 chiếc dĩa nhựa màu trắng hình tròn và 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng hình chứ nhật; M bỏ ma túy lên bàn cho cả nhóm sử dụng chung. M cùng Phạm Thị Thu T4 (không rõ năm sinh, địa chỉ) sử dụng hết 01 viên thuốc lắc, Do M không thích “xào” ma túy khay bằng dĩa nhựa nên điện thoại cho L đổi một chiếc dĩa sành rồi kêu Lu Mỹ N1 mang dĩa ra chỗ L để đổi. Sau đó nữ nhân viên ngồi cùng T2 “xào” ma túy và dùng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng làm ống hút. Tại phòng số 5, M, T2, D, Phạm Thị Thu T4, Lu M và nữ nhân viên ngồi cùng T2 đều sử dụng ma túy. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm đang sử dụng ma túy thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm Kinh tế - Ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã B bắt quả tang và thu giữ tang vật gồm: 01 chiếc dĩa sành màu trắng hình tròn, trên dĩa còn một ít chất bột màu trắng. Số chất bột màu trắng được cơ quan Công an thu gom cho vào 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng ; 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng hình chứ nhật; 01 ống hút được làm bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng; 01 hộp quẹt màu vàng cam; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu vàng; 01 xe gắn máy hiệu Honda Cup 50 biển số 72AF-03179.
Theo phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 11/3/2023 đối với Mai Công M, Nguyễn Đức T2 và Nguyễn Tùng D, Lu M và Phạm Thị Thu T4 đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, M, T2, D còn khai nhận vào ngày 09/3/2023, các bị can thỏa thuận D là người trả tiền mua ma túy còn M là người trả tiền thuê phòng để sử dụng tại quán Karaoke ‘C”. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày M điện thoại cho một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) mua 3.400.000 đồng tiền ma túy loại khay và 1.5 viên ma túy loại thuốc lắc. Khoảng 15 phút sau, M đến trước quán K1 “Cẩm Hồng” nhận ma túy rồi dùng tài khoản Zalo “Phú Quý C” nhắn số tài khoản số 76110000619184 của ngân hàng B1 vào tài khoản Z “Thiên Bảo” của T2 rồi nói Trung Chuyển 3.400.000 đồng tiền mua ma túy (do tiền của M và D đều nhờ T2 giữ hộ). T2 giữ số tài khoản 050060112001 ngân hàng S chuyển tiền qua ứng dụng Smart banking trên điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro của mình để mua ma túy xong thì M cầm ma túy đi vào phòng số 5 quán Karaoke “C”. Tại đây, cả nhóm gọi thêm 03 nữ nhân viên (không rõ họ tên, địa chỉ) phục vụ ( “xào” ma túy và làm ống hút từ tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cho cả nhóm sử dụng). Tại đây, cả 06 người cùng sử dụng hết số ma túy vừa mua trên. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì cả nhóm đi về. Các nữ nhân viên khi sử dụng ma túy thì không phải góp tiền mà còn được nhóm của M trả công 1.000.000 đồng/ người.
Tại Bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS-MT ngày 31/3/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh B kết luận: “ Mẫu A gửi đến giám định có khối lượng 0.2132 gam, là ma túy loại Ketamin” (Bút lục số 124)
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Mai Công M, Nguyễn Đức T2 và Nguyễn Tùng D, Nguyễn Phi L, Trần Đức H và Nguyễn Bá T3 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 107/2023/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phi L, Trần Đức H phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; các bị cáo Mai Công M, Nguyễn Đức T2, Nguyễn Bá T3, Nguyễn Tùng D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng các điểm b, d khoản 2 Điều 256, các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Phi L, Trần Đức H mỗi bị cáo 12 (Mười hai) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, tính từ ngày 11/3/2023.
- Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo M3 Công Minh 12 (Mười hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tính từ ngày bắt chấp hành án, khấu trừ thời gian đã giam giữ từ ngày 11/3/2023 đến ngày 30/3/2023, bắt tạm giam bị cáo tại phiên tòa để đảm bảo việc thi hành án.
- Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 10 (M4) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tính từ ngày 11/3/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng D 09 (C1) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tính từ ngày 11/3/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T3 07 (B) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tính từ ngày 11/3/2023.
Hình phạt bổ sung:
áp dụng khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bổ sung Nguyễn Phi L, Trần Đức H mỗi bị cáo 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); áp dụng khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bổ sung Mai Công M, Nguyễn Đức T2, Nguyễn Tùng D, Nguyễn Bá T3 mỗi bị cáo 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 27/11/2023, bị cáo Mai Công M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng:
Bị cáo Mai Công M kháng cáo trong thời hạn luật định được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Mai Công M phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết, chứng cứ gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 22h30' ngày 10/3/2023, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện C phối hợp với Công an xã B kiểm tra quán Karaoke “C" thuộc ấp V, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do Nguyễn Phi L là quản lý và Trần Đức H là nhân viên phục vụ, phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Bá T3, Mai Công M, Nguyễn Đức T2, Nguyễn Tùng D có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại phòng số 3 và phòng số 5 của quán Karaoke “C”; thu giữ tang vật gồm: 02 dĩa sứ; 02 ống hút làm bằng tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng, 02 thẻ nhựa màu trắng hình chữ nhật, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 04 điện thoại di động các loại, 01 xe mô tô, 01 xe gắn máy (kèm giấy đăng ký xe), 01 hộp quẹt màu vàng cam và 0.2132 gam ma túy Ketamin.
Nguyễn Phi L đã đồng ý cho Mai Công M, Nguyễn Tùng D, Nguyễn Đức T2 sử dụng ma túy tại quán Karaoke “Cẩm Hồng” vào các ngày 09/3/2023 và 10/3/2023, cho Nguyễn Bá T3, Giang Tuyết N, Trần Minh L1, Châu Ngọc M2, Phạm Thị Thu T4, Lu M sử dụng ma túy vào ngày 10/3/2023; để Trần Đức Hoàng cung c dĩa sứ, thẻ nhựa để kẻ ma túy cho khách khi có nhu cầu, thu tiền phòng giá 250.000 - 300.000 đồng/giờ. Tính đến ngày bị bắt, L đã cho 04 lượt khách sử dụng ma túy tại quán; Trần Đức H khai nhận đã phục vụ dĩa sứ, thẻ nhựa và mở nhạc cho 04 lượt khách sử dụng ma túy tại quán Karaoke “C” vào ngày 09/3/2023 và ngày 10/3/2023.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Mai Công M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Mai Công M:
[3.1]. Hành vi của các bị cáo trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, mà còn ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo đều là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và chứa chấp việc sử dụng ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm, biết rõ tác hại của ma tuý đối với đời sống xã hội nhưng vì tham lam, tư lợi, có lối sống đua đòi, hưởng thụ vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[3.2]. Bị cáo Mai Công M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, cung cấp chứng cứ mới xác định bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trực tiếp nuôi dưỡng hai con nhỏ sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Bị cáo Mai Công M cùng các bạn là các bị cáo Nguyễn Đức T2, Nguyễn Tùng D chung tiền mua ma tuý, hai lần thuê địa điểm là phòng hát karaoke tại quán C2 để tổ chức cho nhau và người khác sử dụng ma tuý, gồm lần bị bắt quả tang ngày 10/3/2023 và tự thú khai ra ra lần trước trong ngày 09/3/2023. Vai trò của các bị cáo này là tương đương nhau, với tình tiết định tội, định khung, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gần như nhau. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm quyết định xử phạt bị cáo Mai Công M mức hình phạt tù cao hơn hẳn so với hai bị cáo còn lại, là chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo trong quá trình phân hoá tội phạm, chưa phát huy tốt tác dụng của hình phạt.
Riêng quyết định phạt tiền bổ sung 50.000.000 đồng Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo và các đồng phạm khác là cần thiết để giảm khả năng tái phạm của các bị cáo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Mai Công M, giảm nhẹ hình phạt chính, giữ nguyên hình phạt bổ sung
[4]. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Mai Công M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Mai Công M, sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 107/2023/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về phần hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Mai Công M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 255, các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo M3 Công Minh 10 (M4) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2023, được khấu trừ thời gian giam giữ từ ngày 11/3/2023 đến ngày 30/3/2023.
Hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo M3 Công Minh 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 107/2023/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Mai Công M không phải nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Minh Bắc |
Bản án số 60/2024/HSPT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 60/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Công M phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
