Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 23 - 9 - 2024

Nam.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng và ông Nguyễn Văn Đúng.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nhữ Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thị Huyền T, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT: Chung cư H, tổ dân phố số B, T, phường P, quận N, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: P Tòa I chung cư I, Vinhomes S city, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn T7; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Trịnh Thị T2; có chồng Nguyễn Văn H và 03 con (lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 02/3/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay (có mặt).

Người bào chữa: Ông Nguyễn Xuân S và ông Hoàng Văn C - Luật sư thuộc Văn phòng L2 – Đoàn Luật sư Thành phố H; vắng mặt, đã gửi văn bản bào chữa.

Nguyên đơn dân sự: Chi cục thuế khu vực D - L, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: Phố T, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo pháp luật:Ông Trần Minh H1- Chi cục trưởng. Người đại diện theo ủy quyền : Ông Nguyễn Xuân H2 – Phó Chi cục trưởng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Công ty TNHH T7; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện D, tỉnh Hà Nam; đại diện theo pháp luật là Trần Thị Huyền T - Giám đốc; có mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A đường L, tổ E, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị Ánh T3, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A đường L, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Chị Trương Diệu T4, sinh năm 1991; địa chỉ: Căn B, tòa C, tổ A, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Chị Phan Thị H3, sinh năm 1990; địa chỉ: Xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Duy H4, sinh năm 1977; địa chỉ: Xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH T7 có địa chỉ tại Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện D, tỉnh Hà Nam; đại diện theo pháp luật là Trần Thị Huyền T - Giám đốc; Công ty có 03 thành viên góp vốn, gồm: Trần Thị Huyền T, Phan Thị H3, sinh năm 1990, nơi ĐKHKTT tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An góp 30% vốn, Nguyễn Duy H4, sinh năm 1977, nơi ĐKHKTT tại xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai góp 30% vốn; ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là buôn bán máy móc, thiết bị, phụ tùng máy khác. Năm 2020 Công ty thuê Nguyễn Thị X, sinh năm 1989, trú tại phường L, TP ., tỉnh Hà Nam và năm 2021 thuê Nguyễn Thị Ánh T3, sinh năm 1981, trú tại phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam làm kế toán báo cáo thuế, Trương Diệu T4, sinh năm 1991, trú tại phường M, quận N, thành phố Hà Nội làm kế toán nội bộ. Quá trình hoạt động, muốn giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty phải nộp so với thực tế thực tế nên trong các năm 2020 và 2021, Trần Thị Huyền T đã sử dụng thông tin chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân của nhiều công dân ở nhiều địa phương trên cả nước để kê khống nhân công lao động thời vụ của Công ty T7, sau đó chuyển hồ sơ tài liệu cho kế toán Công ty để kê khai báo cáo thuế làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong năm tài chính 2020, năm 2021 gây thiệt hại đến ngân sách Nhà nước, cụ thể:

Trong năm 2020, Trần Thị Huyền T đã chuyển danh sách 156 căn cước công dân và chứng minh nhân dân cho kế toán là Nguyễn Thị X, để kiểm tra và đăng ký mã số thuế cá nhân. T tự hợp thức hóa hồ sơ lao động khống gồm hợp đồng lao động, bảng chấm công, bảng lương sau đó chuyển lại cho X để kê khai báo cáo thuế trong năm tài chính 2020 tại Chi cục thuế Khu vực D - L, tỉnh Hà Nam. Cụ thể: trong danh sách báo cáo thuế thu nhập cá nhân năm 2020 có 156 (một trăm năm mươi sáu) công nhân lao động thời vụ với tổng số tiền Công ty phải trả lương kê trên danh sách là 2.821.987.500 đồng. Cơ quan điều tra đã chứng minh được 80 trên tổng số 156 người trong danh sách lao động của Công ty T7 không ký hợp đồng, không làm việc cho Công ty T7. Tổng số tiền lương của 80 công dân nói trên là 1.425.500.000 đồng. Việc kê khai trên đã làm tăng chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty TNHH T7 phải nộp năm 2020 là 199.570.000 đồng.

Năm 2021, Trần Thị Huyền T đã chỉ đạo Nguyễn Thị Ánh T3 sử dụng hồ sơ và danh sách trả lương cho 155 người lao động của Công ty T7 với cùng số tiền là 2.821.987.500 đồng (là danh sách cũ của năm 2020 sau khi loại bỏ 01 người là Đoàn Thị H5, mã số thuế: 8488036169) để kê khai báo cáo thuế trong năm tài chính 2021 tại Chi cục thuế Khu vực D - L, tỉnh Hà Nam. Cơ quan điều tra đã chứng minh được 79 trên tổng số 155 người trong danh sách người lao động trên không ký hợp đồng, không làm việc cho Công ty T7. Tổng số tiền lương của 79 người lao động nói trên là 1.417.282.500 đồng. Việc kê khai trên đã làm tăng chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty TNHH T7 phải nộp năm 2021 là 246.833.000 đồng.

Đến kỳ kiểm tra thuế năm 2023, Trần Thị Huyền T đã yêu cầu kế toán nội bộ là Trương Diệu T4 lọc những người có địa chỉ ở Hà Nam và quanh khuvực H7 ra khỏi danh sách 156 công nhân của năm tài chính 2020 sau đóthuê kế toán là Nguyễn Thị L, sinh năm 1990, trú tại Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam sử dụng danh sách 91 người lao động để kê khai báo cáo bổ sung, điều chỉnh báo cáo thuế vào ngày 31/10/2023. Việc Trần Thị Huyền T lập giả danh sách người lao động và sử dụng để kê điều chỉnh bổ sung báo cáo thuế này chỉ là để che giấu hành vi trốn thuế.

Ngày 05/6/2024, Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh H đã ra Quyết định số 141/QÐ-ANĐT-Đ2 trưng cầu Giám định viên tư pháp trong lĩnh vực thuế tại Cục T8, tỉnh Hà Nam giám định thiệt hại về thuế đối với việc Công ty TNHH T7 sử dụng danh sách trả lương cho công nhân thời vụ không đúng với thực tế để kê khai báo cáo thuế trong năm tài chính 2020, 2021.

Ngày 17/6/2024, Giám định viên tư pháp Cục Thuế tỉnh T8 đã ra bản kết luận về thuế và xác định: Công ty T7 đã hạch toán không đúng chi phí lương công nhân thời vụ không đúng thực tế để làm tăng chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2020, 2021, cụ thể như sau:

“...Hành vi sử dụng danh sách trả lương cho công nhân thời vụ không đúng với thực tế để kê khai báo cáo thuế của Công ty T7 trong năm tài chính 2020,2021 đã dẫn đến làm giảm số tiền thuế TNDN phải nộp là 173.933.550 + 246.833.000 = 420.766.550 đồng. Trong đó thiếu năm 2020 là 173.933.550 đồng, thiếu năm 2021 là 246.833.000 đồng.

Tổng hợp mục 1 và mục 2: Hành vi sử dụng danh sách trả lương cho công nhân thời vụ không đúng với thực tế để kê khai báo cáo thuế của Công ty T7 trong năm tài chính 2020, 2021 là hành vi trốn thuế TNDN; số thuế TNDN Công ty T7 trốn là 420.766.550 đồng”.

Ngày 28/6/2024, Cục Thuế tỉnh T8 đã có Công văn số 1653/CTHNA-TTKT2 xác định:

“Căn cứ vào Kết luận giám định và công thức tính thuế của Cục thuế tỉnh T8 và các quy định của pháp luật có liên quan, xác định năm: 2020 và 2021, Công ty T7 đã thực hiện hành vi trốn thuế TNDN là 199.570.000 đồng + 283.456.500 đồng = 483.026.500 đồng”.

Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh H đã thu giữ:

Thu tại nơi làm việc của Trần Thị Huyền T: 05 Case máy tính; 01 USB Token; 01 quyển sổ màu trắng, trên bìa có chữ Memmory; 01 (Một) quyển sổ màu nâu, trên bìa có chữ Office Notebook, MC-825; 01 hộ chiếu số B5312750 mang tên Trần Thị Huyền T; 03 túi hồ sơ nhân sự kế toán gồm: Trương Diệu T4, sinh ngày 14/11/1991,địa chỉ HD MON CITY, H, N, Hà Nội; Nguyễn Thị Thúy L1, sinh ngày 18/5/1997, địa chỉ: Phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Hoàng Minh H6, sinh ngày 02/12/1991, địa chỉ Phường T, quận B, thành phố Hà Nội; 01 USB Token màu trắng, trên thân USB có ghi MISA – ESIGN; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số IMEI: 356719111444548, số IMEI 2: 356719116792164, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0962.448.xxx.

Ngày 27/02/2023, Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh H đã ra Quyết định Ủy thác giải quyết nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan điều tra của các địa phương có liên quan để làm rõ những công nhân có thông tin trong danh sách năm 2020, 2021 mà Công ty T7 đã kê khai báo cáo thuế trên thực tế có ký hợp đồng, có làm việc và có nhận lương của Công ty T7 hay không. Kết quả đến nay xác định có 80/156 lao động trong danh sách năm 2020 và 79/155 lao động trong danh sách năm 2021 của Công ty T7 thực tế không ký hợp đồng, không làm việc cho Công ty T7.

Tại Cáo trạng số 58/CT-VKS-P1 ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Trần Thị Huyền T về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 200; các điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Huyền T phạm tội “Trốn thuế”; xử phạt bị cáo Trần Thị Huyền T từ 500.000.000 đồng đến 550.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào tài khoản của Chi cục thuế khu vực D - L số tiền trốn thuế 483.026.500 đồng đối với bị cáo Trần Thị Huyền T. Số tiền bị cáo đã nộp 281.000.000 đồng được đối trừ.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số IMEI: 356719111444548, số IMEI 2: 356719116792164, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0962.448.xxx.

Trả lại Công ty TNHH T7: 05 Case máy tính và 01 USB Token màu trắng, trên thân USB có ghi MISA - ESIGN.

Trả lại bị cáo Trần Thị Huyền T: 01 hộ chiếu số B5312750 mang tên Trần Thị Huyền T và 01 quyển sổ màu trắng, trên bìa có chữ M.

Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 (Một) quyển sổ màu nâu, trên bìa có chữ Office Notebook, MC-825; 03 túi hồ sơ nhân sự kế toán gồm: Trương Diệu T4, sinh ngày 14/11/1991,địa chỉ HD MON CITY, H, N, Hà Nội; Nguyễn Thị Thúy L1, sinh ngày 18/5/1997, địa chỉ: Phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Hoàng Minh H6, sinh ngày 02/12/1991, địa chỉ Phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại Bản luận cứ gửi Hội đồng xét xử: Việc truy tố bị cáo Trần Thị Huyền T về tội “Trốn thuế” là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kỹ lưỡng, toàn diện điều kiện, hoàn cảnh phạm tội khi đó đang trong đại dịch C1 -19, bị cáo đang mang thai và nuôi con nhỏ, sự hiểu biết pháp luật về thuế còn hạn chế nên không ý thức được hậu quả của hành vi vi phạm. Đến nay, bị cáo đã nhận thức được sai phạm, ăn năn hối cải; đã rất cố gắng khắc phục hậu quả với số tiền 281.000.000 đồng. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự để có quyết định khoan hồng, nhân văn và cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền để bị cáo có cơ hội chăm sóc con nhỏ, sửa chữa lỗi lầm, khắc phục hậu quả, rèn luyện thành một công dân tốt, có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Huyền T thành khẩn khai nhận hành vi của mình đúng như trong nội dung Cáo trạng số 58/CT-VKS-P1 ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa tại Bản luận cứ gửi Hội đồng xét xử; không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Huyền T khai nhận hành vi của mình đúng như trong nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Với mục đích để giảm số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp Công ty TNHH T7 phải nộp trong năm 2020 và 2021, Trần Thị Huyền T - Giám đốc Công ty đã sử dụng chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân của nhiều công dân trên địa bàn cả nước không ký hợp đồng và không làm việc tại Công ty để tạo khống các hợp đồng lao động, bảng chấm công và bảng lương sau đó chuyển cho kế toán kê khai, báo cáo thuế làm giảm số tiền thuế TNDN phải nộp năm 2020 là 199.570.000 đồng, năm 2021 là 283.456.500 đồng. Tổng số tiền Trần Thị Huyền T trốn thuế là 483.026.500 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thị Huyền T đã phạm vào tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước, gây thất thu cho ngân sách. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, nộp lại 281.000.000 đồng tiền trốn thuế; tại thời điểm phạm tội bị cáo đang có thai và hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, được quy định tại các điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Xét thấy, bị cáo phạm tội trong lĩnh vực thuế thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục một phần hậu quả; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nhân thân tốt nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật mà vẫn đảm bảo phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[6] Về quan điểm của người bào chữa: Về đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, xét thấy tuy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của tội phạm thì cần phải phạt bị cáo với mức từ khởi điểm của khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự trở lên.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào tài khoản của Chi cục thuế khu vực D – L số tiền trốn thuế 483.026.500 đồng đối với bị cáo Trần Thị Huyền T. Số tiền bị cáo đã nộp 281.000.000 đồng, hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà NaT8 quản lý được đối trừ; Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà NaT8 có trách nhiệm chuyển số tiền trên vào tài khoản thu ngân sách Nhà nước của Chi cục thuế khu vực D - L, tỉnh Hà Nam.

[9] Về xử lý vật chứng:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số IMEI: 356719111444548, số IMEI 2: 356719116792164, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0962.448.xxx thu giữ của bị cáo Trần Thị Huyền T liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

05 Case máy tính; 01 USB Token màu trắng, trên thân USB có ghi MISA – ESIGN là tài sản của Công ty TNHH T7, vì vậy trả lại cho Công ty TNHH T7.

01 hộ chiếu số B5312750 mang tên Trần Thị Huyền T và 01 quyển sổ màu trắng, trên bìa có chữ M không liên quan đến hành vi phạm tội, vì vậy trả lại cho Trần Thị Huyền T.

01 (Một) quyển sổ màu nâu, trên bìa có chữ Office Notebook, MC-825; 03 túi hồ sơ nhân sự kế toán gồm: Trương Diệu T4, sinh ngày 14/11/1991, địa chỉ HD MON CITY, H, N, Hà Nội; Nguyễn Thị Thúy L1, sinh ngày 18/5/1997, địa chỉ: Phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Hoàng Minh H6, sinh ngày 02/12/1991, địa chỉ Phường T, quận B, thành phố Hà Nội tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[10] Về các vấn đề khác:

Đối với các bản photo Chứng minh thư nhân dân, Căn cước công dân thu giữ trong vụ án, Trần Thị Huyền T khai do thời gian đã lâu nên không nhớ vì sao bản thân lại có các tài liệu này. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra cũng không thu thập được tài liệu nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để xác định nguồn gốc của các bản photo Chứng minh thư nhân dân, Căn cước công dân nói trên.

Đối với Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Ánh T3, Nguyễn Thị L, Trương Diệu T4 là các kế toán được Nguyễn Thị Huyền T5 thuê. Kết quả điều tra xác định những người này đều không biết việc T5 làm khống hồ sơ để trốn thuế. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với những người này là có căn cứ.

Đối với Phan Thị H3, Nguyễn Duy H4 là cổ đông của Công ty T7: Kết quả điều tra xác định H3, H4 không biết, không tham gia, bàn bạc với T5 về việc sử dụng danh sách công nhân khống để kê khai báo cáo thuế của các năm 2020 và 2021. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Phan Thị H3, Nguyễn Duy H4 là có căn cứ.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn phát hiện ngày 06/10/2023 Trương Thị Diệu T6 (kế toán nội bộ Công ty T7) đã chuyển 5.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Trần Thị Lan A, sinh năm 1991 là cán bộ theo dõi, quản lý thuế thuộc Chi cục thuế khu vực D - L tỉnh Hà Nam, sau đó Lan A đã chuyển trả lại vào tài khoản của Trương Diệu T6. Kết quả điều tra xác định không có dấu hiệu tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 200; các điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Huyền T phạm tội “Trốn thuế”.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị Huyền T 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

  2. Về biện pháp tư pháp:

    Truy thu nộp vào tài khoản thu ngân sách Nhà nước của Chi cục thuế khu vực D - L, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo Trần Thị Huyền T số tiền trốn thuế 483.026.500 đồng (Bốn trăm tám mươi ba triệu không trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

    Số tiền 281.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi mốt triệu đồng) bị cáo Trần Thị Huyền T đã nộp (Theo Ủy nhiệm chi số 3982 ngày 12/8/2024 giữa Công an tỉnh HCục Thi hành án dân sự tỉnh Hà NaT8; Biên lai thu tiền số 0001627 ngày 29/7/2024; Biên lai thu tiền số 0001634 ngày 06/8/2024; Biên lai thu tiền số 0002169 ngày 20/9/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà NaT8) được đối trừ; Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà NaT8 có trách nhiệm chuyển số tiền trên vào tài khoản thu ngân sách Nhà nước của Chi cục thuế khu vực D - L, tỉnh Hà Nam.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số IMEI: 356719111444548, số IMEI 2: 356719116792164, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0962.448.xxx.

    Trả lại Công ty TNHH T7: 05 Case máy tính và 01 USB Token màu trắng, trên thân USB có ghi MISA - ESIGN.

    Trả lại bị cáo Trần Thị Huyền T: 01 hộ chiếu số B5312750 mang tên Trần Thị Huyền T và 01 quyển sổ màu trắng, trên bìa có chữ M.

    Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (Một) quyển sổ màu nâu, trên bìa có chữ Office Notebook, MC-825;03 túi hồ sơ nhân sự kế toán gồm: Trương Diệu T6, sinh ngày 14/11/1991,địa chỉ HD MON CITY, H, N, Hà Nội; Nguyễn Thị Thúy L1, sinh ngày 18/5/1997, địa chỉ: Phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Hoàng Minh H6, sinh ngày 02/12/1991, địa chỉ Phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

    (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà NaT8).

  4. Về án phí: Bị cáo Trần Thị Huyền T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn dân sự; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TANDTC
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV & THAHS Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; Người bào chữa; Nguyên đơn dân sự;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; HCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về trốn thuế (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thị Huyền T phạm tội “Trốn thuế”. Xử phạt bị cáo Trần Thị Huyền T 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger