|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày 10-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Thu Hằng
2. Ông Lê Thanh Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Thành - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Hội trường Nhà văn hoá xóm Q, xã N, huyện Đ. Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLHS-ST, ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/10/1977; Nơi cư trú và đăng ký HKTT: Xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán dìu; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nông Văn H – Đã chết; Con bà: Ngô Thị T – Đã chết; Gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ Bẩy trong gia đình; Bị cáo có vợ: Trần Thị N – Sinh năm 1977; Con, Có 02 con chung (con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2004); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ. (Có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Văn B1, sinh năm 1983; (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người chứng kiến:
Anh Vi Đức T1, sinh năm 1981; (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 15 phút ngày 15/8/2024, tổ công tác Công an huyện Đ đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm X, xã N, huyện Đ phát hiện Nông Văn B đang điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu dừng lại kiểm tra. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện thu giữ tại trong lòng bàn tay trái của B 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng (Bẩy khai là Heroine). Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của B là 0,338 gam (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong, kí hiệu A1 để gửi đi giám định). Ngoài ra còn thu giữ của B 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Dream mang BKS: 20H9 - 8970. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với B.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với B, kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.
Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn B khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy từ năm 2023. Khoảng 13 giờ 00 ngày 15/8/2024, Bẩy một mình điều khiển xe mô tô BKS: 20H9-8970 từ nhà đến khu vực thuộc xã Đ, thành phố T, để tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Đến nơi B gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 02 gói Heroine được gói bằng giấy màu trắng, với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được H1, B cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đến đoạn đường thuộc xóm Q, xã N, huyện Đ thị bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô kiểu dáng nhãn hiệu Honda, kiểu Dream BKS: 20H9 – 8970. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng; 02 (hai) phong bì được niêm phong ký hiệu A1, LK. Hiện được bảo quản theo quy định, chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSĐH ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố bị cáo Nông Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Xác định tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo thể hiện qua bản cáo trạng và đề nghị mức hình phạt như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn B phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn B mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân không nhằm mục đích mua bán, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, LK.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và bị truy tố, xét xử là không oan, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt vì vật chứng đã được trả lại quản lý và sử dụng. Trong quá trình điều tra người liên quan đã có đầy đủ lời khai. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với người liên quan anh Trần Văn B1.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 15/8/2024, tại khu vực thuộc xóm Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Nông Văn B đang có hành vi tàng trữ 02 (hai) gói Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của B là 0,338 gam (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong, kí hiệu A1 để gửi đi giám định).
Tại bản Kết luận giám định số 944/KL-KTHS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là: 0,338 gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c, H1 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”...
Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo điều luật nói trên.
[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, hành vi đó của bị cáo gây ảnh hưởng xấu, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, là nguyên nhân phát sinh của những loại tội phạm khác. Do vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định thì mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện hành vi phạm tội để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán kiếm lời, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
[6] Vật chứng của vụ án: Áp dụng 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: gồm 02 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, LK đây là số ma tuý còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng nhãn hiệu Honda, kiểu Dream BKS: 20H9 – 8970 bị cáo sử dụng khi bị bắt quả tang quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là anh Trần Văn B1 em trai vợ cho bị cáo mượn ngày 15/8/2024 bị cáo sử dụng chiếc xe này mục đích mua ma tuý anh B1 không biết sử dụng vào hành vi phạm tội nên có đơn xin lại chiếc xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Trần Văn B1 em trai vợ bị cáo quản lý, sử dụng là phù hợp.
[7] Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực thuộc xã Đ, thành phố T nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ, xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa ngày hôm nay là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nông Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 15/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng gồm 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyện vẹn ký hiệu A1 và 01(một) phong bì còn nguyên vẹn ký hiệu LK.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ).
Về án phí:
Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh B vắng mặt có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. /.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Tuấn |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nông Văn Bẩy phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Bẩy 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
