Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Hữu Yên và ông Dương Kim Hồng

Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà - Thư ký TAND huyện Thạch Hà.

Đại diện VKSND huyện Thạch Hà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T

- Kiểm sát viên.

Vào hồi 8 giờ 00 phút ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST - HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST - HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Gia T1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 26 tháng 04 năm 2004 tại: xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Gia B, sinh năm: 1966; Con bà: Trần Thị C, sinh năm: 1973. Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 25/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Lê Văn Q, sinh năm 2004. Nghề nghiệp: Lao động tự do. HKTT: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Võ Bá C1, sinh năm 1989. Nghề nghiệp: Kinh doanh. Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
  • - Ông Nguyễn Gia B, sinh năm 1966. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.Vắng mặt
  • - Bà Trần Thị C, sinh năm 1973. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

Người làm chứng: Chị Trần Thị Lệ T2, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Gia T1 và Lê Văn Q, sinh năm 2004, trú tại tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh là bạn bè chơi thân với nhau. Vào tối ngày 14/6/2024, trong lúc đi chơi cùng nhau thì Nguyễn Gia T1 có mượn điện thoại Iphone X của Q để chơi game nên biết trong điện thoại của Lê Văn Q có tài khoản ngân hàng M có số tiền dư gần 17.000.000 đồng. Sau khi chơi game xong, T1 trả điện thoại cho Q và cùng nhau đi về nhà Q ở tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Tại nhà Q, T1 tiếp tục hỏi mượn điện thoại Iphone X để chơi game và được Q đồng ý. Q ngồi xem T1 chơi game một lúc rồi nói với T1 “Không chơi nữa nhớ sạc máy tau với” rồi Q đi ngủ, T1 hiểu ý là khi chơi game xong thì trả điện thoại lại và sạc để ở phòng ngủ cho Q. Nguyễn Gia T1 sử dụng điện thoại di động Iphone X của Lê Văn Q chơi game đến khoảng 03 giờ sáng ngày 15/6/2024 thì tài khoản game của T1 hết tiền, nên T1 nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trong tài khoản ngân hàng M của Lê Văn Q. Để thực hiện hành vi của mình, Nguyễn Gia T1 vào ứng dụng “Cài đặt” trong điện thoại Iphone X của Lê Văn Q và thêm khuôn mặt (Face ID) của Nguyễn Gia T1 vào điện thoại của Lê Văn Q để đăng nhập vào tài khoản ngân hàng M số tài khoản 0852950221 trong ứng dụng “M” của Lê Văn Q cài đặt trên điện thoại Iphone X. Sau khi cập nhật được khuôn mặt, Nguyễn Gia T1 đăng nhập thành công vào tài khoản ngân hàng của Q trên máy điện thoại Iphone X và thấy trong tài khoản ngân hàng của Q còn số tiền gần 17.000.000 đồng. Nguyễn Gia T1 vào mục “chuyển tiền” và nhập chuyển số tiền 15.000.000 đồng, số tài khoản người nhận là “223399779999”, ngân hàng M, mang tên Nguyễn Gia T1. Đến lúc xác nhận chuyển tiền thì hệ thống yêu cầu mật mã OTP (mã PIN) để xác nhận giao dịch chuyển tiền; do T1 không biết mật mã OTP của Lê Văn Q nên Nguyễn Gia T1 tiếp tục thao tác vào mục “Đặt lại mã PIN” trên điện thoại Iphone X của Lê Văn Q và đặt lại mã PIN là “020704”. Sau đó, hệ thống gửi mã OTP về sim điện thoại có số “0852.950.xxx” đang lắp trong chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple dòng Iphone 6 Plus của Lê Văn Q để xác thực, lúc này điện thoại Iphone 6 Plus của Lê Văn Q đang được sạc pin tại chân giường trong phòng ngủ và có báo tin nhắn đến. Sau khi đổi được mã PIN thành công, vào lúc 03 giờ 11 phút ngày 15/6/2024, Nguyễn Gia T1 đăng nhập lại ứng dụng ngân hàng “M” trên điện thoại Iphone X của Lê Văn Q và thực hiện thành công lệnh chuyển số tiền 15.000.000 đồng sang tài khoản ngân hàng M, số tài khoản: 223399779999 của Nguyễn Gia T1. Sau đó, T1 sử dụng chiếc điện thoại Iphone 6S màu hồng của T1, rồi đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng M số tài khoản “223399779999” có sẵn trên máy để thực hiện lệnh chuyển số tiền 15.000.000 đồng từ số tài khoản của T1 sang 01 tài khoản ngân hàng trong game để tiếp tục chơi game. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, sau khi chơi game hết số tiền vừa chiếm đoạt nói trên, quan sát thấy Q đang ngủ nên Nguyễn Gia T1 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone X và chiếc điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đồng của Lê Văn Q. Thuyên bỏ 02 chiếc điện thoại vào túi quần bên phải và rời khỏi nhà Q rồi bắt xe taxi ra thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vào lúc 03 giờ 47 phút cùng ngày, trên đường đi, do trong người không còn tiền, T1 tiếp tục đăng nhập vào tài khoản ngân hàng M của Lê Văn Q để chuyển hết số tiền còn lại là 1.975.505 đồng từ tài khoản ngân hàng M của Lê Văn Q sang số tài khoản của Nguyễn Gia T1 để chi tiêu cá nhân. Tổng số tiền mà Nguyễn Gia T1 đã thực hiện 02 lần chuyển tiền từ tài khoản của Lê Văn Q sang tài khoản của Nguyễn Gia T1 để chi tiêu cá nhân là 16.975.505 đồng.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, Nguyễn Gia T1 vào cửa hàng điện thoại “Iphone Zin” ở đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An do anh Võ Bá C1, sinh năm 1989, trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An là chủ cửa hàng, bán chiếc điện thoại Iphone X cho anh C1 với giá 700.000 đồng. Ngày 16/6/2024, T1 đến nhà chị Trần Thị Lệ T2 sinh năm 1988, trú tại thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (chị họ của T1) đưa chiếc điện thoại Iphone 6 Plus để nhờ chị T2 trả lại cho Q. Số tiền chiếm đoạt được, Nguyễn Gia T1 đã mua 01 chiếc điện thoại Iphone 7, trị giá 1.300.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi biết việc T1 chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại di động và toàn bộ số tiền trong tài khoản ngân hàng, ngày 19/6/2024, Lê Văn Q đã làm đơn trình báo lên Công an thị trấn T. Ngày 25/6/2024, biết hành vi phạm tội của mình bị phát hiện, Nguyễn Gia T1 đã đến Công an thị trấn T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 94/KLĐG, ngày 08/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus màu vàng đồng, số máy: NGA2LL/A, Số seri: F9CRG1JVG5QT, có số IMEI 355379071366966 đã qua sử dụng là: 783.000 đồng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, dung lượng 128GB, màu đen, bản khoá mạng, đã qua sử dụng là: 1.425.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 2.208.000 đồng.

* Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S màu hồng, bị cong vênh, vỡ màn hình, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 7 màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus màu vàng đồng, đã qua sử dụng.

Ngày 03/08/2024, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus màu vàng đồng cho chủ sở hữu tài sản là anh Lê Văn Q. Số vật chứng còn lại, đang được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án huyện Thạch Hà theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Gia T1 đã tác động gia đình bồi thường cho anh Lê Văn Q số tiền 20.000.000 đồng, hiện anh Q đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 67/CT-VKSTH, ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Gia Thuyên về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia T1 phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Gia T1 mức án từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Gia T1 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 2 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Gia T1. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm

Lời nói sau cùng bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Nguyễn Gia T1 và Lê Văn Q là bạn bè chơi thân với nhau nên thỉnh thoảng có mượn điện thoại để chơi game nên T1 biết trong tài khoản ngân hàng MB số “0852950221” của Lê Văn Q có tiền. Vào lúc 03 giờ 11 phút ngày 15/6/2024, tại nhà Lê Văn Q, tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân và chơi game nên Nguyễn Gia T1 đã sử dụng các phương thức thêm khuôn mặt (Face ID) và đặt lại mã pin để truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng M1 số “0852950221” của Lê Văn Q trên điện thoại di động Iphone X của Lê Văn Q, chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi tiêu xài cá nhân hết số tiền trên, vào lúc 03 giờ 47 phút cùng ngày, T1 tiếp tục truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của Lê Văn Q để chiếm đoạt số tiền còn lại là 1.975.505 đồng. Sau đó, Nguyễn Gia T1 lợi dụng anh Lê Văn Q đang ngủ, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone X trị giá 1.425.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus trị giá 783.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Gia T1 02 lần truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của Lê Văn Q để chiếm đoạt số tiền là 16.975.505 đồng và hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại của Lê Văn Q trị giá 2.208.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viên thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 290 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Ngoài ra, bị cáo đầu thú và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Gia T1 là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn trực tiếp xâm phạm đến an toàn công cộng trong lĩnh vực công nghệ thông tin điện tử, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, gây lo lắng trong nhân dân. Bị cáo là người nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Mặt khác,bị cáo lợi dụng mối quan hệ bạn bè thân thiết với bị hại để thực hiện hành vi phạm tội với chính bạn của mình. Ngoài việc sử dụng mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt gần 17.000.000 đồng, bị cáo còn lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại. Điều đó cho thấy ý thức pháp luật kém. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại, tự đến cơ quan điều tra để đầu thú và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần được chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Gia T1 đã tác động gia đình bồi thường cho anh Lê Văn Q số tiền 20.000.000 đồng, hiện anh Lê Văn Q đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bỏ ra bồi thường cho bị hại nên miễn xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S màu hồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 7 màu bạc thu của Nguyễn Gia T1 là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên cần căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus màu vàng đồng, đã qua sử dụng đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện T trả lại cho chủ sở hữu tài sản anh Lê Văn Q là đúng quy định nên miễn xét.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Các vấn đề khác: Đối với anh Võ Bá C1, sinh năm 1989, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, là người đã mua chiếc điện thoại di động Iphone X mà bị cáo Nguyễn Gia T1 chiếm đoạt của Lê Văn Q. Tuy nhiên, quá trình mua, bán anh C1 không biết chiếc điện thoại này do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có, nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với anh Võ Bá C1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia T1 phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Gia T1 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Gia T1 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản".

    Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Gia T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” là 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (25/6/2024).

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6S màu hồng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 7 màu bạc, đã qua sử dụng.

    (Tình trạng đặc điểm các vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Gia T1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thạch Hà;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu Hồ sơ; VT

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự: sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia Th phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger