Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA - TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 05/11/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hưng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Văn Thọ

2. Bà Ngô Thị Hóa

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Xuân Tùng - Thư ký tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST - HS, ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đình Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14/12/1983 tại xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu D xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1959; Vợ: Phùng Thị H, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007; Gia đình bị cáo có 2 người, bị cáo là thứ hai; Tiền sự: không.

Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số: 45/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 Toà án nhân dân huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc (Bị cáo chấp hành xong ngày 25/4/2024).

Nhân thân: Bản án số: 13/2007/HSST ngày 28/02/2007 của Toà án nhân dân huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/6/2024, chuyển tạm giam ngày 18/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P.

2. Họ và tên: Nguyễn Anh H1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 19/5/1988 tại xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu B xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quốc K (đã chết) và bà Đặng Thị D, sinh năm 1964; Vợ: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1988; Bị cáo có 03 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018; Gia đình bị cáo có 03 người, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 18/6/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty cổ phần Q;

Địa chỉ trụ sở: Thôn V, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức X - Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Văn L, sinh năm 1987 - Chức vụ: Quản lý công ty (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Khu B xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 50 phút ngày 12/6/2024, tại đoạn đường thuộc khu D, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác thuộc Cơ quan CSĐT - Công an huyện H trong quá trình làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Anh H1, sinh năm 1988 ở khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ đang điều khiển xe mô tô BKS: 19H1-008.10 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Ngay sau khi dừng xe, H1 ném 01 gói nilon xuống đường nhựa rồi bỏ chạy xuống ruộng ven đường thì bị tổ công tác bắt giữ, yêu cầu H1 nhặt gói nilon vừa vứt lên. Sau đó, tổ công tác mời người chứng kiến rồi tiến hành kiểm tra gói nilon có đặc điểm màu xanh, bên trong có 01 gói giấy màu trắng, hai mặt in chữ, số màu đen. Bên trong gói giấy chứa chất bột, cục màu trắng. H1 khai nhận đó là H2 tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H1. Ngoài ra còn thu giữ của H1 01 xe mô tô BKS: 19H1-008.10 và 01 điện thoại Nokia 105 bên trong lắp sim số 0343.730.623.

Về nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, H1 khai nhận vừa mua của Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1983 ở khu D, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ với giá 500.000 đồng.

Căn cứ vào lời khai của H1, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đình Đ đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Nguyễn Đình Đ, kết quả thu giữ: 01 gói nilon màu hồng bên trong có 08 gói nilon được hàn kín, trong đó có 01 gói nilon màu hồng bên trong có 01 gói giấy màu trắng, 07 gói nilon màu xanh bên trong mỗi gói đều có 01 gói giấy màu trắng có in chữ, số màu đen. Trong 08 gói giấy đều có chứa chất bột cục màu trắng thu tại lỗ gạch ống khói bếp củi nhà Đ; 01 kéo bằng kim loại thu tại phòng ngủ của Đ; 01 bật lửa ga màu đỏ thu tại bàn uống nước; 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GRAND i10 màu trắng BKS: 88A-107.27; Thu trên xe ô tô 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình Đ và số tiền 500.000 đồng; T2 tại túi quần bên phải Đ đang mặc số tiền 430.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 màu đen lắp sim số 0984.547.062.

Ngày 12/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H trưng cầu giám định đối với các chất bột cục đã thu giữ của H1, Đ.

Tại bản kết luận giám định số: 841/KL - KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận:

“ - Chất bột cục màu trắng chứa bên trong 08 gói nilon niêm phong trong bì giấy ghi vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình Đ gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,794 gam loại Heroine.

- Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói nilon niêm phong trong bì ghi vật chứng thu giữ của Nguyễn Anh H1 gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,137 gam loại Heroine.

* Heroine có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Ngày 18/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Đình Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và Nguyễn Anh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đồng thời tiến hành điều tra làm rõ toàn bộ nội dung vụ án như sau:

Trong quá trình lái xe taxi chở khách lên thành phố Y, Đ biết khu vực đầu cầu V thuộc thành phố Y, tỉnh Yên Bái có người bán ma tuý nên nảy sinh ý định mua ma tuý về để bán kiếm lời. Sáng ngày 10/6/2024, sau khi điều khiển xe ô tô BKS: 88A-107.27 chở khách lên thành phố Y, Đ điều khiển xe đến khu vực cầu V để tìm mua ma tuý. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và hỏi mua của người này 2.000.000 đồng ma túy, loại Heroine. Người đàn ông đồng ý, cầm tiền và bảo Đ đứng chờ. Một lúc sau, người này quay lại, đưa cho Đ 04 gói nilon bên trong chứa ma tuý. Sau khi mua được ma túy xong Đ điều khiển xe quay về nhà, Đ chia nhỏ số ma tuý vừa mua được thành 10 phần rồi dùng các mảnh giấy gói lại rồi mang cất giấu tại lỗ gạch ống khói bếp củi tại gian bếp của gia đình. Sau đó, trong ngày 11 và 12/6/2024, Đ đã 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho H1, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng 13 giờ ngày 11/6/2024, khi Đ đang ở nhà thì thấy số điện thoại 0343.730.xxx của H1 gọi đến số điện thoại 0984.547.xxx của Đ hỏi mua 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Đ đồng ý, bảo H1 đến đoạn đường gần cổng nhà Đ đợi. Sau đó, Đ lấy 01 gói ma tuý tại chỗ đã cất giấu trước đó, điều khiển xe ô tô BKS: 88A-107.27 ra cổng lối rẽ đường H đợi H. Một lúc sau, H1 điều khiển xe mô tô BKS: 19H1-008.10 đến. Tại đây, Đ bán cho H1 01 gói ma túy heroine có đặc điểm bên ngoài là 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 01 gói giấy màu trắng in chữ số màu đen với giá 500.000 đồng. Số ma tuý trên sau khi mua được, H1 đã sử dụng hết cho bản thân bằng cách đốt, hít qua đường hô hấp.

Lần thứ hai:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 12/6/2024, khi Đ đang đón khách tại xã V, huyện H thì thấy H1 gọi điện đến tiếp tục hỏi mua 500.000 đồng ma tuý. Đ đồng ý và bảo H1 ra khu vực ngã tư đoạn giao cắt giữa đường H với Quốc lộ G thuộc khu E thị trấn H chờ. Trả khách xong, Đ điều khiển xe ô tô BKS: 88A-107.27 đến địa điểm đã hẹn với H1. Gặp nhau, Đ bán cho H1 01 gói ma tuý có đặc điểm giống gói ma tuý đã bán cho H1 ngày 11/6/2024 với giá 500.000 đồng. Mua được ma tuý, H1 cầm ở tay rồi điều khiển xe mô tô BKS: 19H1- 008.10 đi theo đường huyện F hướng đi xã M. Khi đi đến địa phận khu D xã M, H bị tổ công tác thuộc Công an huyện H phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.

Về khối lượng các chất ma túy mà các đối tượng đã mua bán, tàng trữ: Quá trình điều tra xác định khối lượng ma túy Heroine Đô bán cho H1 là 0,137 gam, H1 tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Đ còn tàng trữ ở 0,794 gam Heroine, mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, Nguyễn Đình Đ phải chịu trách nhiệm đối với tổng khối lượng số ma tuý đã bán cho H1 và khối lượng ma tuý Đ tàng trữ là 0,931 gam Heroine.

Kết quả xét nghiệm xác định H1 dương tính với M, Đ âm tính với các chất ma tuý.

Đối với khối lượng ma tuý mà Đ bán cho H1 ngày 11/6/2024, do H1 đã sử dụng hết nên không xác định được số ma tuý này có khối lượng bao nhiêu. Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với H1.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được người bán ma túy cho Đ là ai, ở đâu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H1 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Đ có 01 tiền án nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS.

Về việc thu giữ và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ các đồ vật gồm: 02 phong bì niêm phong số PS3 2116010 và PS3 2116011 của Phòng KTHS - Công an tỉnh P bên trong là ma tuý hoàn trả sau giám định;

Thu của Nguyễn Đình Đ 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GRAND i10 màu trắng BKS: 88A-107.2701. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên Đô thuê của Công ty CP Q có trụ sở tại thôn V, xã Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 03/6/2022, thời hạn thuê 3 năm. Việc Đ sử dụng chiếc xe trên để đi mua, bán ma tuý không liên quan đến Công ty Cổ phần Q. Ngoài ra còn thu: 01 chiếc kéo bằng kim loại, 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình Đ và số tiền 930.000 đồng là tiền 02 lần bán ma tuý cho H1 còn lại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 màu đen lắp sim số 0984.547.062. Chiếc điện thoại trên Đ sử dụng để liên lạc bán ma tuý.

Thu của Nguyễn Anh H1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Win BKS 19H1-008.10. Chiếc xe trên xác định là tài sản chung của vợ chồng H1, chị Nguyễn Thị Thanh N là vợ H1 không biết việc H1 sử dụng chiếc xe trên đi đi mua ma tuý; 01 điện thoại Nokia 105 bên trong lắp sim số 0343.730.623. Chiếc điện thoại trên H1 sử dụng để liên lạc mua ma tuý.

Hành vi phạm tội của bị cáo H1 được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ. Đối với bị cáo Đ được chứng minh bằng biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản khám xét khẩn cấp người và nơi ở, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến, lời khai nhận tội của các bị cáo, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cùng tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKSHH, ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Anh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Đình Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - BLHS.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H1 từ 18 đến 21 tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày ngày 12/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi Thi hành án.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - BLHS.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 12/6/2024.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo điều luật đối với bị cáo H1 và bị cáo Đ.

Về vật chứng :

Áp dụng khoản 1 Điều 47 - BLHS; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị trả lại cho Công ty cổ phần Q do ông Lưu Văn L đại diện theo ủy quyền 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GRAND i10 màu trắng BKS: 88A-107.2701.

Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình Đ 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình Đ.

Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Win BKS: 19H1-008.10.

Đề nghị tịch thu của bị cáo Nguyễn Đình Đ số tiền 930.000 để nộp ngân sách Nhà nước;

Đề nghị truy thu của bị cáo Đ 70.000đ để nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu của bị cáo Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A78 màu đen để bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước. Riêng thẻ sim số 0984.547.062 đề nghị tịch thu cho tiêu hủy.

Đề nghị tịch thu của bị cáo H1 01 điện thoại Nokia 105 để bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước. Riêng thẻ sim số 0343.730.623 đề nghị tịch thu cho tiêu hủy.

Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy các vật chứng còn lại gồm:

02 phong bì niêm phong số PS3 2116010 và PS3 2116011 của Phòng KTHS - Công an tỉnh P bên trong là ma tuý hoàn trả sau giám định; 01 chiếc kéo bằng kim loại và 01 bật lửa gas màu đỏ;

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị buộc các bị cáo Nguyễn Đình Đ và Nguyễn Anh H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo hoàn toàn thừa nhận đã có hành vi phạm tội như đã nêu trong bản cáo trạng, không có lời bào chữa nào khác và xin HĐXX xem xét chiếu cố giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Đình Đ và Nguyễn Anh H1 đều khai nhận đã có hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với quá trình điều tra, giải quyết vụ án do đó có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng16 giờ 20 phút ngày 12/6/2024 tại khu vực ngã tư đoạn giao cắt giữa đường H với Quốc lộ G thuộc khu E thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đình Đ đã bán trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,137 gam với giá 500.000 đồng cho Nguyễn Anh H1, số ma tuý này H1 tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, Đ còn tàng trữ tại lỗ gạch ống khói bếp củi tại gian bếp của gia đình 08 gói ma tuý có tổng khối lượng 0,794 gam Heroine, mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, Nguyễn Đình Đ phải chịu trách nhiệm với tổng khối lượng ma tuý đã bán cho H1 và khối lượng ma tuý Đ tàng trữ là 0,931 gam Heroine. Nguyễn Anh H1 phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma tuý tàng trữ để sử dụng là 0,137 gam. Trước đó, vào khoảng hơn 13 giờ ngày 11/6/2024, tại khu vực gần cổng nhà Đ ở khu D xã M, huyện H, Đ còn bán cho H1 01 gói ma tuý Heroine với giá 500.000 đồng. Số ma tuý này H1 đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra không xác định được khối lượng do không thu giữ được. Tổng số tiền Đ thu lợi bất chính từ 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho H1 là 1.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội như đã nêu trên của bị cáo Nguyễn Anh H1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Đình Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251- Bộ luật Hình sự.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...

c, H2..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma tuý:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...

b) Phạm tội 02 lần trở lên; ...”.

Cáo trạng của VKSND huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Anh H1 và bị cáo Nguyễn Đình Đ về tội danh và điều luật như đã viện dẫn là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý. Trước thực trạng xã hội loại tội phạm này đã gây ra những hậu quả vô cùng nguy hiểm cho toàn xã hội, gây nên sự tổn thương mất mát rất nghiêm trọng về sức khỏe, tính mạng, tài sản, hạnh phúc của gia đình trong hiện tại cũng như tương lai, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và đe dọa tới sự tồn tại và phát triển của giống nòi, hành vi phạm tội mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo đã gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự quản lý giáo dục của gia đình và toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác.

Xét về nhân thân: Đối với bị cáo Nguyễn Anh H1 mặc dù chưa có tiền án, tiền sự, nhưng chỉ vì thích đua đòi, chơi bời, muốn thỏa mãn bản thân nên đã lao sâu vào con đường nghiện hút ma túy do đó dẫn đến phạm tội, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Đối với bị cáo Nguyễn Đình Đ có 01 tiền án. Tại Bản án số 45/2021/HS-ST ngày 30/9/2021 của Toà án nhân dân huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc. Ngoài ra bị cáo có nhân thân. Bản án số: 13/2007/HSST ngày 28/02/2007 Toà án nhân dân huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tà quy chính, không chịu khó làm ăn chân chính, lại muốn có tiền tiêu sài cá nhân, do đó chỉ trong thời gian ngắn bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 - BLHS, nhưng bị cáo cũng phải chịu 01 tình tiết tăng nặng TNHS nào đó là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, nên vụ án cần phải được đưa ra xét xử thật nghiêm minh trước pháp luật, cần phải áp dụng một hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, để các bị cáo thấy được ngoài sự khoan hồng của pháp luật ra còn có sự trừng phạt đối với những người thích đua đòi, lười lao động, không chịu tu dưỡng bản thân để cải tạo trở thành người lương thiện, đồng thời làm những việc bất hợp pháp dẫn đến phạm tội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 - BLHS bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nhưng xét thấy hiện nay các bị cáo sinh sống cùng với bố mẹ, bản thân các bị cáo không có tài sản riêng, không có chức vụ gì nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung theo quy định của điều luật cho các bị cáo là phù hợp.

Đối với khối lượng ma tuý mà Đ bán cho H1 ngày 11/6/2024, do H1 đã sử dụng hết, không xác định được số ma tuý này có khối lượng bao nhiêu. Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với H1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông mà bị cáo Đ khai đã bán ma túy cho Đ ở khu vực cầu V thuộc thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra chưa xác định được người này là ai, ở đâu. Vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này, sau này làm rõ được sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hãng xe taxi T3 do ông Nguyễn Đức X làm giám đốc, quá trình điều tra xác định hãng xe T4 không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[5] Về vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại Graind I10 màu trắng, BKS 88A-107.27, số khung MALA851AAGM343900, số máy G3LAFM420906 đã cũ đã quả sử dụng, bên trong cabin và cốp xe không có tài sản gì, xe khóa cửa không mở được cửa vào được cabin xe. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do Đ thuê của Công ty CP Q để chở khách. Việc Đ sử dụng chiếc xe trên để đi mua, bán ma tuý không liên quan đến Công ty CP Q do đó cần trả lại cho Công ty là phù hợp.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Win, loại xe Honda, số khung RLPOCHBUMAB 001216, số máy VZS152FMH516216; Biển kiểm soát: 19H1-008.10 đã cũ qua sử dụng, xe bị vỡ đèn xi nhan. Quá trình điều tra xác định là tài sản chung của vợ chồng, bị cáo dùng làm phương tiện đi mua ma túy, chị Nguyễn Thị Thanh N (Vợ bị cáo H1) không biết bị cáo H1 làm phương tiện mua bán trái phép chất ma túy, nên cần được trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, có viền màu xanh, số seri 858925075075891, không có ốp lưng, đã cũ qua sử dụng, thu giữ của bị cáo H1 và 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A78 màu đen, đã cũ đã qua sử dụng, số IMEI: 869008060800797, số seri 491d9684, xác định những chiếc điện thoại này các bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc để mua, bán ma túy do đó cần tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp. Riêng 02 thẻ sim số 0343.730.623 và thẻ sim số 0984.547.062 cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với số tiền bị cáo Đ bán ma túy cho bị cáo H1 được 1.000.000đ bị cáo đã tiêu xài hết 70.000đ do đó cần truy thu của bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 930.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ là tiền bán ma túy mà có, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần được trả lại cho bị cáo Đ là phù hợp.

Đối với các vật chứng còn lại gồm:

01 bì niêm phong dán kín nguyên vẹn số PS3 2116010 của Phòng KTHS Công an tỉnh P. Một mặt có ghi trả lại 0,685 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu của Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1983, HKTT: Khu D, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Một mặt của bì giấy có 03 loại chữ ký, ghi rõ họ tên và đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh P tại các mép dán; 01 bì niêm phong dán kín nguyên vẹn số PS3 2116011 của Phòng KTHS Công an tỉnh P. Một mặt có ghi trả lại 0,110 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Anh H1, sinh năm 1988, Nơi ĐK HKTT: Khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Một mặt của bì giấy có 03 loại chữ ký, ghi rõ họ tên và đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh P tại các mép dán; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa gas màu đỏ đã cũ đã qua sử dụng. Xác định là hàng cấm và là công cụ, dụng cụ liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 - BLHS (Đối với bị cáo Nguyễn Anh H1).

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 - BLHS (Đối với bị cáo Nguyễn Đình Đ).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 - BLHS; Khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt chính:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh H1 18 (Mười tám) tháng tù, khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 18/6/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Xô ph¹t: Bị cáo Nguyễn Đình Đ 08 (Tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 12/6/2024.

[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều luật cho bị cáo Nguyễn Anh H1 và Nguyễn Đình Đ.

[4] Về vật chứng:

Trả lại cho Công ty cổ phần Q do ông Lưu Văn L đại diện theo ủy quyền 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, số loại Graind I10 màu trắng, BKS 88A-107.27, số khung MALA851AAGM343900, số máy G3LAFM420906 đã cũ đã quả sử dụng, bên trong cabin và cốp xe không có tài sản gì, xe khóa cửa không mở được cửa vào được cabin xe.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh H1 01 xe máy nhãn hiệu Win, loại xe Honda, số khung RLPOCHBUMAB001216, số máy VZS152FMH516216; BKS: 19H1-008.10 đã cũ qua sử dụng, xe bị vỡ đèn xi nhan.

Trả lại cho bị cáo Đ 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đình Đ.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Đình Đ 930.000 đồng (Chín trăm ba mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Truy thu của bị cáo Nguyễn Đình Đ 70.000₫ (Bẩy mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Anh H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, có viền màu xanh, số seri 858925075075891, không có ốp lưng, đã cũ qua sử dụng, để bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Đình Đ 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A78 màu đen, đã cũ đã qua sử dụng, số IMEI: 869008060800797, số seri 491d9684, để bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu cho tiêu hủy các vật chứng còn lại gồm: 01 bì niêm phong dán kín nguyên vẹn số PS3 2116010 của Phòng KTHS Công an tỉnh P. Một mặt có ghi trả lại 0,685 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu của Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1983, HKTT: Khu D, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Một mặt của bì giấy có 03 loại chữ ký, ghi rõ họ tên và đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh P tại các mép dán; 01 bì niêm phong dán kín nguyên vẹn số PS3 2116011 của Phòng KTHS Công an tỉnh P. Một mặt có ghi trả lại 0,110 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Anh H1, sinh năm 1988, Nơi ĐK HKTT: Khu B, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Một mặt của bì giấy có 03 loại chữ ký, ghi rõ họ tên và đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh P tại các mép dán; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa gas màu đỏ đã cũ đã qua sử dụng; 02 thẻ sim số 0343.730.623 và thẻ sim số 0984.547.062.

(Các vật chứng có tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ).

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Anh H1 và bị cáo Nguyễn Đình Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật THADS, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo H1 và bị cáo Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị N (Có mặt) được quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông L (Vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hạ Hòa;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - CQCSĐT - CA huyện Hạ Hòa;
  • - UBND xã V, huyện Hạ Hòa;
  • - UBND xã M, huyện hạ Hòa;
  • - Sở tư pháp;
  • - THAHS;
  • - Chi cục THADS;
  • - Bi cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Hưng Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA - TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án bị cáo Nguyễn Đình Đ và đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger