|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HS-ST
Ngày: 18/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Hường và ông Phạm Ngọc Minh
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Ngọc T - Sinh năm 1996, tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; con ông Lê Ngọc L và bà Nguyễn Thị Lệ D; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/02/2024 đến ngày 01/3/2024 chuyển Tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông (bà):
- - Lê Ngọc L – Sinh năm: 1960; địa chỉ: P, P, N, Ninh Thuận – Vắng mặt;
- - Võ Minh C - Sinh năm: 1991; Địa chỉ: thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt;
- - Anh Đặng Xuân C1 - Sinh năm: 1984, Địa chỉ: thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt.
Những người khác được Tòa án triệu tập: anh Nguyễn Duy P - sinh năm 1999; địa chỉ: P, P, N, Ninh Thuận – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 45 ngày 20/02/2024, tại khu vực đường đi thuộc thôn P, xã P, huyện N, Công an xã P phát hiện bắt quả tang Lê Ngọc T đang cất giấu trong túi quần 01 ống nhựa bịt kín hai đầu kích thước (1x0,3)cm, bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy.
Tại Kết luận giám định số 76/KL-KTHS, ngày 26/02/2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được bịt kín hai đầu, kích thước (1x0,3)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, qua giám định là ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,0987g.
Quá trình điều tra, T khai nhận tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích có ai hỏi mua thì bán, đồng thời trong khoảng thời gian từ trước tết Nguyên Đán 2024 đến khi bị bắt, T đã nhiều lần bán ma túy loại Heroin cho người khác. Cụ thể như sau:
Bán ma túy cho Võ Minh C (Cường C), sinh năm: 1991, HKTT: thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận 03 lần mỗi lần 200.000 đồng vào các ngày 01/02/2024, 04/02/2024 và ngày 19/02/2024.
Bán ma túy cho Đặng Xuân C1 (Cường N), sinh năm: 1984, HKTT: thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận 03 lần cụ thể như sau: chiều ngày 18/02/2024 bán ma túy cho C1 với giá 400.000 đồng; Sáng ngày 19/02/2024 bán ma túy cho C1 với giá 200.000 đồng; Chiều ngày 19/02/2024 bán ma túy cho C1 với giá 200.000 đồng.
Về nguồn gốc số ma túy: Lê Ngọc T khai mua của Nguyễn Duy P, sinh năm 1999 ở cùng thôn P. Quá trình điều tra đã làm việc với P tuy nhiên P không thừa nhận. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu, chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Duy P.
Ngoài những lần bán ma túy trên T còn khai nhận, vào ngày 18/02/2024, T đem bán ma túy với giá 200.000 đồng cho một người tên V làm nghề hớt tóc, nhà ở thôn P, xã P, huyện N. Qua xác minh xác định người này có tên Nguyễn Công V, sinh năm: 1992, HKTT: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Hiện nay anh V không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với anh V nên chưa có căn cứ xử lý đối với T về lần mua bán này, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh để xem xét xử lý sau.
Đối với Võ Minh C, Đặng Xuân C1 và Nguyễn Duy P có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Cáo trạng số 56/CT-VKS-HS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận truy tố lê Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước giữ nguyên nội dung truy tố tại bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Ngọc T từ 04 năm đến 05 năm tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Không có ý kiến tranh luận, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại hiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, truy tố. Việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[3]. Tại phiên tòa bị cáo Lê Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở xác định:
Lê Ngọc T tàng trữ ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,0987g nhằm mục đích để bán. Trước khi bị bắt, T đã thực hiện 06 lần bán trái phép chất ma túy cho Võ Minh C và Đặng Xuân C1, thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng.
Hành vi nêu trên của Lê Ngọc T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ.
[4]. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Lê Ngọc T khai nguồn gốc ma túy mua từ Nguyễn Duy P, sinh năm 1999 ở cùng thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Tại giai đoạn điều tra, cơ quan Điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra như “Thu thập dữ liệu điện thoại, tiến hành đối chất, xác minh các đối tượng liện quan”. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo T thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh giữa T và P có giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa, có mặt Nguyễn Duy P, quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, tài liệu chứng cứ mới chứng minh P là người bán ma túy cho T nên không có cơ sở để xem xét.
[5]. Lê Ngọc T còn khai nhận, vào ngày 18/02/2024, T bán ma túy với giá 200.000 đồng cho một người tên V làm nghề hớt tóc, nhà ở thôn P, xã P, huyện N. Qua xác minh Cơ quan Điều tra Côngan huyện N xác định người này có tên Nguyễn Công V, sinh năm: 1992, HKTT: thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Hiện nay anh V không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với anh V nên chưa có căn cứ xử lý đối với T về lần mua bán này, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh để xem xét xử lý sau là phù hợp.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra tự thú hành vi phạm tội trước đó. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị cáo tác động ông Lê Ngọc L (cha ruột) nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại khoản 2 của Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới các tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc của cuộc sống đồng thời các tác dụng đấu tranh và phòng chống tội phạm. Xét bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt là phù hợp.
[8]. Biện pháp tư pháp:
Đối mẫu vật còn lại sau giám định và một vỏ gói thuốc Jet, 01 bật lửa mầu cam không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; đối với một điện thoại cảm ứng hiệu Iponne 7, màu đen thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận dùng để liên lạc bán trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với một xe gắn máy biển số 85R8-2270, quá trình điều tra xác định là xe của ông Lê Ngọc L (cha ruột của bị cáo), không liên quan đến hành vi phạm tội nên được trả lại cho ông L; đối với số tiền 59.000 đồng thu giữ của bị cáo T, trong đó có tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cáo sử dụng làm dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy hiện tại đã nộp vào kho bạc nhà nước nên tịch thu nộp Ngân sách. Số tiền còn lại 57.000 đồng là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội được trả lại cho bị cáo. Đối với số tiền thu lợi bất chính từ hành vi bán trái phép chất ma túy là 1.200.000 đồng buộc T phải giao nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 1.200.000 đồng ông Lê Ngọc L (cha bị cáo) nộp thay cho bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu số 0002115 ngày 15/10/2024.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251của Bộ luật Hình sự; điểm r, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lê Ngọc T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 20/02/2024).
* Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Một điện thoại cảm ứng hiệu Iphone 7 plus màu đen, màn hình điện thoại bị bể, số IMEI: 355841089438913, số MEID 35584108943891, gắn sim số 0999931564 và một ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen; Số tiền 2.000 đồng trong số 59.000 đồng nộp tại Kho bạc Nhà nước huyện N theo ủy nhiệm chi số 10 lập ngày 09/10/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện N.
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy: mẫu vật còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 76/KL –KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, 01 bật lửa màu đỏ cam và 01 vỏ gói thuốc Jét đã qua sử dụng;
- - Trả lại cho ông Lê Ngọc L một xe gắn máy dáng Wave màu xanh, biển số 85R8-2270, số khung RLHHC09063Y649207, số máy HC 09E0649230, x đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy bên trong.
- - Trả lại số tiền 57.000 đồng (trong tổng số 59.000 đồng theo ủy nhiệm chi số 10 lập ngày 09/10/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện N) cho bị cáo Lê Ngọc T;
- - Buộc bị cáo Lê Ngọc T phải nộp lại số tiền 1.200.000 đồng tịch thu nộp ngân sách nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền 1.200.000 đồng ông Lê Ngọc L (cha bị cáo) nộp thay cho bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu số 0002115 ngày 15/10/2024 (bị cáo đã nộp đủ).
Toàn bộ vật chứng đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên bản giao nhật vật chứng lập ngày 09/10/2024.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/11/2024). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thị Hường Phạm Ngọc Minh |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
