Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

TỈNH LONG AN

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày: 15-8-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Đoàn Văn Nhanh;
    2. Ông Dương Tấn Thành.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh năm 1999, tại Long An; Nơi cư trú: Ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1 và bà Phạm Thị P; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc N, có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-10-2023 đến nay. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Võ Đan E, sinh năm 2005; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Công T2, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Số C, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14-4-2023, Lê Minh T liên hệ với người đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân lai lịch) mua 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet, 4.000 bao nhãn hiệu Hero) và được T3 cho thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94 để vận chuyển. T thuê Lê Võ Đan E vận chuyển số thuốc lá này từ ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đi giao tại khu vực cầu C (huyện C, tỉnh Trà Vinh) với tiền công 1.000.000 đồng. Đan E đồng ý và tự ý rủ thêm Nguyễn Công T2 cùng đi vận chuyển. Đến khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14-4-2023, khi Đan E điều khiển xe ô tô 51H-532.94, chở theo Nguyễn Công T2 cùng 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu đi đến đoạn tuyến tránh Quốc lộ F (ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre) thì xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô 71F1-8109 do ông Võ Văn H điều khiển, dẫn đến vụ việc bị phát hiện. Tại Cơ quan điều tra Lê Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Về phương tiện, tang vật: Xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94 và 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet, 4.000 bao nhãn hiệu Hero) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre đang quản lý chờ xử lý.

Cáo trạng số 44/CT-VKSĐH ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lê Minh T khai nhận: Ngày 14-4-2023, Lê Minh T mua của người đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân lai lịch) 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet (mua giá 17.310 đồng/bao, sẽ bán lại giá 18.000 đồng/bao), 4.000 bao nhãn hiệu Hero (mua giá 14.310 đồng/bao, sẽ bán lại giá 15.000 đồng/bao), đồng thời thuê của T3 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94 để vận chuyển. T thuê Lê Võ Đan E vận chuyển số thuốc lá này từ ấp C, xã M đi giao tại khu vực cầu C (huyện C, tỉnh Trà Vinh) với tiền công 1.000.000 đồng. Đan Em điều khiển xe ô tô bị tai nạn giao thông nên sự việc bị phát hiện. Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Võ Đan E trình bày: Vào ngày 14-4-2023, Lê Minh T thuê ông điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94 (xe do Lê Minh T giao) vận chuyển 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet, 4.000 bao nhãn hiệu Hero), từ ấp C, xã M đi giao tại khu vực cầu C (huyện C, tỉnh Trà Vinh) với tiền công 1.000.000 đồng. Ông đồng ý và tự rủ thêm Nguyễn Công T2 cùng đi vận chuyển, hứa trả công cho Nguyễn Công T2 200.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi ông điều khiển xe chở thuốc lá điếu nhập lậu đi đến đoạn tuyến tránh Quốc lộ F (huyện M, tỉnh Bến Tre) thì xảy ra tai nạn giao thông dẫn đến vụ việc bị phát hiện. Ông và Nguyễn Công T2 đang bị Công an huyện M, tỉnh Biến Tre xử lý bằng vụ án khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công T2 trình bày: Ngày 14-4-2023, Đan E rủ ông cùng đi vận chuyển 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet, 4.000 bao nhãn hiệu Hero), từ ấp C, xã M đi giao tại khu vực cầu C (huyện C, tỉnh Trà Vinh), vận chuyển xong Đan E sẽ trả công cho ông 200.000 đồng. Đan Em điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, khi Đan E điều khiển xe chở thuốc lá điếu nhập lậu đi đến đoạn tuyến tránh Quốc lộ F (huyện M, tỉnh Bến Tre) thì xảy ra tai nạn giao thông nên vụ việc bị phát hiện. Ông và Đan E đang bị Công an huyện M, tỉnh Biến Tre xử lý bằng vụ án khác.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T về tội “Buôn bán hàng cấm”; Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51, Điều 32 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.

Đối với hành vi của Lê Võ Đan E và Nguyễn Công T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre khởi tố xử lý bằng vụ án khác nên không đề cập.

Đối với người đàn ông tên T3 đã bán thuốc lá điếu nhập lậu và cho thuê xe ô tô để bị cáo Lê Minh T vận chuyển mua bán thuốc lá điếu nhập lậu và người đàn ông giao thuốc lá điếu nhập lậu cho Đan E, không xác định được nhân thân lai lịch nên không mời làm việc được.

Về tang vật: Xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94 và 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet, 4.000 bao nhãn hiệu Hero), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre đang quản lý chờ xử lý nên không đề cập;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra, quyết định phê chuẩn khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị các cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện đúng và hợp pháp.
  2. [2] Ngày 14-4-2023, bị cáo Lê Minh T liên hệ với người đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân lai lịch) mua 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 6.000 bao nhãn hiệu Jet (mua giá 17.310 đồng/bao, sẽ bán lại giá 18.000 đồng/bao), 4.000 bao nhãn hiệu Hero (mua giá 14.310 đồng/bao, sẽ bán lại giá 15.000 đồng/bao) và được T3 cho thuê 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94 để vận chuyển. Bị cáo T thuê Lê Võ Đan E vận chuyển thuốc lá này từ ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An đi giao tại khu vực cầu C (huyện C, tỉnh Trà Vinh) với tiền công 1.000.000 đồng. Đan E đồng ý và tự rủ thêm Nguyễn Công T2 cùng đi vận chuyển.

Đến khoảng 21 giờ 45 phút ngày 14-4-2023, khi Đan E điều khiển xe ô tô 51H-532.94, chở theo Nguyễn Côn T4 cùng 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu đi đến đoạn tuyến tránh Quốc lộ F (ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre) thì xảy ra tai nạn giao thông với xe mô tô 71F1-8109 do ông Võ văn H1 điều khiễn, dẫn đến vụ việc bị phát hiện.

  1. [3] Tại phiên toà, bị cáo Lê Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo Lê Minh T phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
  2. [4] Bị cáo Lê Minh T đủ lý trí và năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được việc buôn bán hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích vụ lợi.
  3. [5] Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, giữa bị cáo Lê Minh T cùng Lê Võ Đan E và Nguyễn Công T2 không có sự bàn bạc, phân công cụ thể vai trò, trách nhiệm, cách thức thực hiện tội phạm, không có sự câu kết chặc chẽ trong việc thực hiện hành vi phạm tội giữa bị cáo Lê Minh T cùng Lê Võ Đan E và Nguyễn Công T2, hành vi của bị cáo Lê Minh T thực hiện với hình thức đồng phạm giản đơn.
  4. [6] Đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê Minh T phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
  5. [7] Cáo trạng số 44/CT-VKSĐH ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Lê Minh T với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
  6. [8] Hành vi của bị cáo Lê Minh T là nguy hiểm cho xã hội, không những làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo Lê Minh T cần được xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
  7. [9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  8. [10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Lê Minh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, con của bị cáo còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
  9. [11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Lê Minh T là có căn cứ pháp luật.
  10. [12] Về các biện pháp tư pháp, căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều 46, 47 và 48 của Bộ luật Hình sự, xét thấy: Xe ô tô nhãn hiệu Kia, loại Cerato, màu xanh, biển số 51H-532.94 và 10.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm

6.000 bao nhãn hiệu Jet, 4.000 bao nhãn hiệu Hero); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đang quản lý chờ xử lý bằng vụ án khác nên không đề cập;

  1. [13] Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu.
  2. [14] Đối với hành vi của Lê Võ Đan E và Nguyễn Công T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre khởi tố xử lý bằng vụ án khác nên không đề cập.
  3. [15] Đối với người đàn ông tên T3 đã bán thuốc lá điếu nhập lậu và cho thuê xe ô tô để bị cáo Lê Minh T vận chuyển mua bán thuốc lá điếu nhập lậu và người đàn ông giao thuốc lá điếu nhập lậu cho Đan E, không xác định được nhân thân lai lịch nên không mời làm việc được nên không đề cập. Nhằm tránh bỏ lọt tội phạm, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật.
  4. [16] Bị cáo Lê Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh T về tội “Buôn bán hàng cấm”;

  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 32 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, các Điều 299, 326 và 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 08 (tám) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16-10-2023).
  • Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Minh T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15-8-2024), để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
  • - Về án phí: Áp dụng các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Minh T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 15-8-2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - Bị cáo; Liên quan;
  • - UBND xã B;
  • - Hồ sơ THA.HS (07);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hùng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN về hình sự - tội buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger