Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 60/2024/HS-ST

Ngày 05 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và ông Đường Ngọc Đại.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Duy M (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 24 tháng 8 năm 1993; nơi sinh: Xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Tự do; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Đặng Văn Đ và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; tiền án: 01 tiền án, cụ thể:

    Tại bản án số 158/2014/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, (Bị cáo chưa bồi thường nên chưa được xóa án tích).

    Tiền sự: Không. Nhân thân:

    • Tại Quyết định số 01/QĐ-CA ngày 11 tháng 7 năm 2011, bị cáo bị Công an phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (đã được xóa).
    • Tại Quyết định số 01/QĐ-CA ngày 07 tháng 6 năm 2016, bị cáo bị Công an tỉnh V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa).

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 11 năm 2023 đến nay, “có mặt.

  2. Nguyễn Thị Thu T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 5 năm 2000; nơi sinh: Xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn N, Xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Đảng, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Ngô Thị P; có chồng là Nguyễn Văn D (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 11 năm 2023 đến nay, “có mặt”.
  3. Hà Long V (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 09 tháng 6 năm 2002; nơi sinh: Xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Hà Quốc T1 và bà Trần Thị Q; vợ con: Không; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 11 năm 2023 đến nay, “có mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Trần Văn Q1, sinh năm 2002; cư trú tại: Xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

Chị Phùng Ngọc H2, sinh năm 1989; cư trú tại: Phường V, quận H, thành phố Hà Nội, “vắng mặt”.

- Người làm chứng:

Chị Đinh Thị Minh H3, sinh năm 2005; cư trú tại: Xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.

Chị Đinh Thị H4, sinh năm 1980; cư trú tại: Xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 11 tháng 11 năm 2023, Trần Văn Q1 rủ và được Hà Long V là bạn ở cùng xã, cùng với Nguyễn Thị Thu TĐinh Thị Minh H3 đến khu B, thuộc xã N, P để nghỉ dưỡng.

Sau khi Q1 thuê được căn biệt thự số F3.1 của chị Phùng Ngọc H2 với giá 4.000.000 đồng/1 ngày (đã chuyển khoản thanh toán). Chị H2 giao cho chị Đinh Thị H4, là quản gia đến mở cửa căn biệt thự cho Q1 cùng những người nêu trên nghỉ dưỡng.

Khoảng 11h cùng ngày, Q1 gọi điện thoại rủ và được Đặng Duy M đồng ý đến căn biệt thự số F3.1 để chơi (Q1 không bảo M mang ma túy đến căn biệt thự số F3.1 để sử dụng). Khi M đồng ý đến chơi thì Q1 nhờ và được M đồng ý mua cơm hộp đem đến cho cả nhóm ăn.

Do trước đó vào ngày 09 tháng 11 năm 2023, M đã mua của 01 người thanh niên tên là T2 tại khu vực phường Đ, V, Vĩnh Phúc được: 01 túi chứa ma túy ke chưa xào đảo, 01 túi chứa 01 viên ma túy kẹo, 01 gói giấy màu trắng có chứa ma túy ke đã xào sẵn (người bán đã xào từ trước), để sử dụng, nhưng chưa sử dụng, nên ngày 11 tháng 11 năm 2023 M đã mang theo số ma túy nêu trên, thuê taxi của người không quen biết, không nhớ hãng xe, đi mua cơm rồi mang đến căn biệt thự F3.1 khu B Flamingo Đại Lải.

Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì M mang cơm đến, cả nhóm ăn uống đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì ăn xong, lên tầng 2 nghỉ ngơi. Q1, T vào phòng ngủ bên trái hướng cầu thang lên; V, H3 vào phòng ngủ phía bên phải hướng cầu thang lên; còn M ở một mình tại căn phòng giữa tầng 2.

Nghỉ ngơi được một lúc, M đi sang phòng của Q1, T để tổ chức sử dụng ma túy. Tại đây, M lấy ra: 01 túi chứa ma túy ke chưa xào đảo, 01 túi chứa 01 viên ma túy kẹo, 01 gói giấy màu trắng có chứa ma túy ke đã xào sẵn, 01 bao thuốc lá Thăng Long và 01 bật lửa gas màu đỏ, để trên mặt bàn trong phòng ngủ của Q1, rồi M bẻ 01 viên ma túy MDMA làm 02 phần, M sử dụng một phần (cho vào miệng nuốt), phần còn lại để trên mặt bàn.

Tiếp đó M đi xuống bếp ở tầng 1 lấy 01 chiếc đĩa sứ hình tròn đem lên phòng đưa cho T, để xào đảo ma túy ke. T dùng bật lửa hơ nóng đĩa, M đổ gói ma túy ke đã được xào sẵn từ trước ra đĩa, T lấy 01 chiếc thẻ ATM ngân hàng MB màu xanh của T xào đảo lại ma túy rồi chia thành nhiều đường ma túy ke. Đảo xong ma túy T lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng của T cuốn thành ống hút hình tròn để sử dụng ma túy ke (thời điểm T cuốn ống hút, thì Q1 đang tắm trong nhà vệ sinh). Khi M sử dụng xong 02 đường ma túy ke, T tiếp tục chia ma túy trong đĩa thành 04 đường, T sử dụng 02 đường ke, còn Q1 sử dụng 02 đường ma túy ke còn lại.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đến phòng ngủ của Q1 thấy trên mặt bàn có 01 cục bột màu trắng ma túy kẹo (MDMA), V hỏi xin thì được M đồng ý cho Vũ cục bột ma túy này để sử dụng, nhưng V không sử dụng ngay mà đúc vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, để ngày hôm khác sử dụng cho bản thân. Tại đây V không sử dụng bất kỳ loại ma túy nào do V lúc đó đang mệt. (cục bột ma túy kẹo M cho V là ma túy của M mang đến căn biệt thự, do M cho V, không liên quan gì đến TQ1).

Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi M, T, Q1 đang sử dụng ma túy thì bị Công an xã N, P đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan đến vụ án.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Thu giữ tại phòng ngủ tầng 2 bên trái hướng từ cầu thang vào gồm:

  • 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đường kính khoảng 25cm, trên bề mặt đĩa sứ có các tinh thể dạng đá màu trắng bám dính, các chất tinh thể này được thu vào trong 01 túi nilon màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu A1;
  • 01 chiếc thẻ ATM của ngân hàng M1, màu xanh mang tên Nguyễn Thị Thu T có dòng chữ số “9704222079702528” bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 chiếc ống hút hình tròn được cuốn từ tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá có bám dính chất tinh thể màu trắng. Ống hút, thẻ cứng và chiếc đĩa sứ nên trên được cho vào 01 hộp bìa cứng, được niêm phong theo quy định, ký hiệu A2;
  • Thu giữ trên mặt phản gần chiếc đĩa có các chất tinh thể dạng đá màu trắng, được thu vào trong 01 túi nilon màu trắng và niêm phong trong phong bì theo quy định, ký hiệu A3;
  • T3 tại nền nhà góc trong bên phải hướng từ cửa vào 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các tinh thể dạng đá màu trắng, được cho vào phong bì niêm phong theo quy định, ký hiệu A4.
  • Thu trong túi quần trước bên phải của Hà Long V đang mặc 01 cục bột màu trắng, được cho vào 01 túi nilon màu trắng, niêm phong trong phong bì theo đúng quy định, ký hiệu A5.
  • 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ; thu và niêm phong các mẫu nước tiểu của Đặng Duy M, Nguyễn Thị Thu T, Trần Văn Q1, Hà Long V cho vào các chai nhựa đậy nắp kín, niêm phong đúng quy định, để giám định.

* Kết quả giám định ma túy và các giám định khác:

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

  • Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,0356g.
  • Chất cục bột màu trắng bám dính (trên đĩa sứ màu trắng; ống hút bằng tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đ; thẻ ngân hàng MB số 9704222079702528 màu xanh) của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính màu trắng do tồn tại ở dạng vết.
  • Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,0311g.
  • Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,3381g.

Ngày 18, 19 tháng 11 năm 2023, Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Đặng Duy M ...; Trần Văn Q1 ....; Nguyễn Thị Thu T ...., gửi giám định”.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A5 gửi giám định, là ma túy, loại MDMA có khối lượng 0,1631g".

Ngày 19 tháng 11 năm 2023, Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Hà Long V..., gửi giám định.

Cơ quan giám định hoàn lại mẫu:

  • A1 = 0,00g; A2 gồm: 01 đĩa sứ đường kính 25cm, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng, 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 thẻ ngân hàng MB số 9704 2220 7970 2528 màu xanh; A3: 0,00g; A4: 0,2964g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 2958”;
  • A5 = 0,1265gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng 01 bao gói giấy “Mẫu trả vụ 2959;
  • 0,0 ml mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong dán kín trong cùng 1 bao gói giấy “Mẫu trả vụ 2960”;
  • 0,0 ml mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong dán kín trong cùng 1 bao gói giấy “Mẫu trả vụ 2961”;
  • 0,0 ml mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong dán kín trong cùng 1 bao gói giấy “Mẫu trả vụ 2962”
  • 0,0 ml mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong dán kín trong cùng 1 bao gói giấy “Mẫu trả vụ 2963”;

Đối với người tên T2 (M khai là người đã bán ma túy cho M), đến nay chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với Trần Văn Q1, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine ngày 11 tháng 11 năm 2023, bị bắt quả tang. Giám định nước tiểu, Q1 dương tính 02 loại ma túy là MDMA và Ketamine.

Trong giai đoạn điều tra Q1 khai nhận: Trước đó khoảng 1 tuần, khi đi dự sinh nhật của bạn Q1 đã sử dụng ma túy MDMA, nhưng không nhớ địa điểm sử dụng, không nhớ người cho ma túy để sử dụng. Hành vi của Q1 không cấu thành tội phạm, nhưng vi phạm pháp luật, Công an thành phố P đã xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, Q1 đã nộp phạt.

Đối với Hà Long V: Kết quả giám định nước tiểu xác định V dương tính 02 loại ma túy là MDMA và Ketamine. V khai nhận trước đó mấy ngày, V đã sử dụng 02 loại ma túy nêu trên tại nhà V. Khi V sử dụng ma túy không có người ở nhà, không ai biết V sử dụng ma túy. Cơ quan điều tra đã có văn bản gửi Công an xã Đ, L để xử lý theo quy định.

Đối với Đinh Thị Minh H3, sau khi ăn uống xong, H3V vào phòng riêng để nghỉ ngơi, H3 không biết và không tham gia sử dụng ma túy (khi Công an bắt quả tang thì H3 vẫn đang ngủ tại phòng riêng), nên không đề cập việc xử lý.

Đối với chị Đinh Thị H4, là quản gia của căn biệt thự, không biết và không liên quan đến vụ án, nên không đề cập việc xử lý.

Đối với chị Phùng Ngọc H2, là chủ căn biệt thự F3.1 khu B Flamingo, không biết và không liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, chị H2 đã thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P để xử phạt hành chính theo thẩm quyền.

Kết quả điều tra còn xác định: Đầu năm 2016, bị cáo Nguyễn Thị Thu T có quan hệ tình dục với Nguyễn Văn D, sinh năm 1994, trú tại xã Đ, T, Vĩnh Phúc tại 01 nhà nghỉ ở xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, tại thời điểm đó bị can T chưa đủ 16 tuổi, sau đó T có thai. Đến ngày 25 tháng 10 năm 2016, T sinh con và đặt tên là Nguyễn Yến N. Đến ngày 21 tháng 6 năm 2018, T cùng anh D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến ngày 09 tháng 7 năm 2018, anh D làm thủ tục khai sinh cho cháu Nguyễn Yến N tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Đến ngày 18 tháng 02 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc có Quyết định số 16/2021/QĐST-HNGĐ công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn D và chị Nguyễn Thị Thu T, anh D được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Yến N.

Hành vi của Nguyễn Văn D có dấu hiệu của tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển các tài liệu có liên quan đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Vĩnh Phúc để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKSPY ngày 06 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đặng Duy M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hà Long V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về các tội danh như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Duy M từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù; đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Long V từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam các bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như sau: Ngày 11 tháng 11 năm 2023, tại căn biệt thự F khu B, ở xã N, thành phố P, các Đặng Duy M, Nguyễn Thị Thu T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Đặng Duy M tổ chức cho 03 người là Trần Văn Q1, Nguyễn Thị Thu T, Hà Long V sử dụng trái phép chất ma túy; Nguyễn Thị Thu T tổ chức cho Đặng Duy MTrần Văn Q1 (02 người) sử dụng trái phép chất ma túy.

Hà Long V có hành vi cất giấu 01 cục bột ma túy (MDMA) tại túi quần phía trước bên phải có khối lượng 0,1631 gam để sử dụng cá nhân, (Ma túy do M cho V để sử dụng).

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng MDMA, Ketamine của Phòng K - Công an tỉnh V,...Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố các bị cáo Đặng Duy M, Nguyễn Thị Thu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Hà Long V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, ...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) .................................................

b) Đối với 02 người trở lên;.........”

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”

.....................................................

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều trong độ tuổi lao động, không chịu tu dưỡng rèn luyện, ăn chơi đua đòi ngang nhiên tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ ma túy để sử dụng cá nhân. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đối với Đặng Duy M trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, bản thân đã bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện nay lại tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội lần này là “tái phạm” nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với Nguyễn Thị Thu T trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với Hà Long V trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với Trần Văn Q1, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine ngày 11 tháng 11 năm 2023, bị bắt quả tang. Giám định nước tiểu, Q1 dương tính 02 loại ma túy là MDMA và Ketamine. Hành vi của Q1 không cấu thành tội phạm. Vì vậy, Cơ quan Công an thành phố P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Q1 là phù hợp.

Đối với người tên T2 (M khai là người đã bán ma túy cho M), cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn D không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ vụ việc tới cơ quan công an có thẩm quyền xem xét, xử lý là phù hợp.

Đối với Đinh Thị Minh H3 không biết và không tham gia sử dụng ma túy, nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với chị Đinh Thị H4, là quản gia của căn biệt thự, không biết và không liên quan đến vụ án, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với chị Phùng Ngọc H2, là chủ căn biệt thự F3.1 khu B Flamingo, không biết và không liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, chị H2 đã để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P để xử phạt hành chính theo thẩm quyền là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo Đặng Duy M, Nguyễn Thị Thu T, Hà Long V đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với mẫu hoàn lại sau giám định: A1, A3, A4, A5; các mẫu trả: “Mẫu trả vụ 2958, 2959, 2960, 2961, 2962, 2963” cần tịch thu tiêu hủy;
  • Đối với 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;
  • Đối với 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, 01 chiếc đĩa sứ, 01 thẻ ngân hàng MB số 9704222079702528 màu xanh, 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy;

[7] Về án phí: Các bị cáo Đặng Duy M, Nguyễn Thị Thu T, Hà Long V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Duy M, Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo Hà Long V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Đặng Duy M 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12 tháng 11 năm 2023.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12 tháng 11 năm 2023.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hà Long V 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12 tháng 11 năm 2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu, tiêu hủy mẫu ma túy A1 = 0,00 gam, A3 = 0,00 gam, A4 = 0,2964 gam, A5 = 0,1265 gam; các mẫu trả: “Mẫu trả vụ 2958, 2959, 2960, 2961, 2962, 2963” và toàn bộ bao gói được niêm phong do cơ quan giám định hoàn lại;

Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) chiếc bật lửa gas, 01 (Một) đĩa sứ, 01 (Một) thẻ ngân hàng M1 số 9704222079702528 màu xanh, 03 (Ba) vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 76 lập ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đặng Duy M, Nguyễn Thị Thu T, Hà Long V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • Viện KSND T.Vĩnh Phúc;
  • Viện KSND TP.Phúc Yên;
  • CQĐT - Công an TP.Phúc Yên;
  • Trại TG – CA T.Vĩnh Phúc;
  • Sở Tư pháp T.Vĩnh Phúc;
  • Chi cục THADS TP.Phúc Yên;
  • Các bị cáo, đương sự;
  • Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Anh Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 60/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Duy Mạnh và DP tổ chức sử dụng TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger