TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 03/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Vương Mỹ Linh
Thẩm phán: Ông Trần Anh Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Cường
Ông Mai Gia Cát Bà Trần Thị Diệu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Tô Triệu V
- Sinh năm: 2002 tại Đắk Lắk
- Nơi ĐKHKTT: Thôn 5, xã Cuôr Knia, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăklăk
- Nơi ở: Phòng trọ không số, hẻm D N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
- Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Vĩnh H (sinh năm 1971) và bà Nguyễn Thị Bích N (sinh năm 1977); chưa có vợ con.
- Tiền án, tiền sự: Không
- Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Tô Triệu V:
Luật sư Võ Thị Thúy N1– Văn phòng luật sư Nguyễn Thành C, là luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh K, bào chữa cho bị cáo Tô Triệu V theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Luật sư N1 có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Xuân T - Sinh năm: 1987
Trú tại: Tổ H, thôn S, xã K, huyện K, Khánh Hòa. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hữu T1 - Sinh năm: 1998
Trú tại: H N, phường T, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Lê Đình T2 - Sinh năm: 1967
Trú tại: Tổ dân phố H, Cam Phúc B, C, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Đỗ Thúy A - Sinh năm: 1992
Trú tại: I H, P, N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Trần T3 - Sinh năm: 1977
Trú tại: 1 D, V, N, Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Ông Võ Q - Sinh năm: 1963
Trú tại: Tổ A Đường Đ, V, N, Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Thái D - Sinh năm: 1980
Trú tại: Thôn V, xã V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Đình B1 - Sinh năm: 1983
Trú tại: Thôn T, xã S, D, Khánh Hòa. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Xuân T4 - Sinh năm: 2004
Trú tại: Thôn T, xã N, N, Khánh Hòa. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/01/2023, tại khu vực ngã ba đường P giao đường N, V, N, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phát hiện, bắt quả tang Tô Triệu V vừa nhận 01 thùng hàng bên trong có 81,1584 gam ma túy MDMA và 97,4457 gam ma túy Ketamine từ tài xế xe G tên Trần Thịnh. V khai nhận số ma túy trên do người nam tên B2 (không rõ lai lịch) đặt mua từ thành phố Hồ Chí Minh gởi ra cho V đi nhận và mang bán cho người khác. Cùng ngày, tiến hành khám xét chỗ ở của Tô Triệu V tại phòng trọ không số, hẻm D N, V, N, phát hiện thu giữ: 1,1185 gam ma túy MDMA và 8,9943 gam ma túy Ketamine.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng cuối tháng 10/2022, Tô Triệu V gặp và quen biết người nam tên B2 (sử dụng số điện thoại 0935.897.xxx, 0764586720 và tài khoản Ngân hàng V1 số 4570909090909 tên DO ANH BINH). B2 thuê V đi nhận và bán ma túy được gửi từ thành phố Hồ Chí Minh về thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, V đồng ý. Theo đó, B2 sẽ đặt mua ma túy từ thành phố Hồ Chí Minh gửi ra N thông qua dịch vụ vận tải xe khách Khanh Phong với thông tin người nhận là số điện thoại 0987.772.xxx của V. Khi gói hàng chứa ma túy về đến Văn phòng xe khách Khanh Phong tại N, B2 gọi điện thoại để V trực tiếp đi nhận (hoặc V đặt ứng dụng G để nhận) rồi mang về phòng trọ của V tại hẻm D N, V, N. Tại đây, V gọi B2 đến cùng kiểm tra số lượng ma túy (mỗi lần từ 50 gam đến 100 gam ma túy Ketamine; từ 100 đến 200 viên ma túy MDMA). Sau đó, B2 giao lại ma túy cho V phân lẻ, cất giấu và mang đi bán cho các đối tượng nghiện ma túy như Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Xuân T và nhiều người khác (chưa rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng/01 viên ma túy MDMA; từ 3.000.000 đồng đến 3.500.000 đồng/nửa hộp năm ma túy Ketamine và 6.000.000 đồng/01 hộp năm ma túy Ketamine. Khi có người liên lạc mua ma túy thì B2 (hoặc V) sẽ thỏa thuận số lượng, địa điểm sau đó V mang ma túy đến địa điểm đã hẹn để giao cho khách. Vỹ được B2 trả công 500.000 đồng/01 lần khi đi nhận ma túy hoặc đi giao ma túy cho khách. Với cách thức như trên, V đã nhiều lần nhận ma túy của B2 mang bán cho người khác. Trong đó, khoảng 15 giờ ngày 15/11/2022, tại phòng số 101 khách sạn gam ma túy Ketamine cho Nguyễn Đình B1 (B1 nhờ Nguyễn Xuân Trung c tiền mua ma tuý cho V để cùng sử dụng) (theo bản Kết luận giám định số 482 ngày 18/11/2022 của Phòng K Công an tỉnh K).
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/01/2023, B2 gọi điện thoại nói V đến nhà xe K1 trên đường N, N nhận gói hàng chứa ma túy với số điện thoại người nhận 0987.772.xxx. Sau đó, V đã đặt dịch vụ xe Grab của anh Trần T3 đi nhận gói hàng này về giao cho V tại khu vực ngã ba đường P giao đường N, N thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ như trên.
Tại Bản kết luận giám định số 36 ngày 12/01/2023 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận:
- Các viên nén màu tím trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 81,1584g, là (loại) MDMA.
- Tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon của mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 97,4457g, là (loại) Ketamine.
- Mẫu ký hiệu C gửi giám định gồm:
- Các viên nén màu tím là ma túy, có khối lượng 0,4119g, là (loại) MDMA.
- Các viên nén màu nâu là ma túy, có khối lượng 0,7066g, là (loại) MDMA.
- Tinh thể màu trắng trong 02 gói nylon của mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,7930g, là (loại) Ketamine.
- Tinh thể màu trắng trong 03 gói nylon mẫu ký hiệu E gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,2013g, là (loại) Ketamine.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKSKH-P1 ngày 21/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Tô Triệu V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- + Đối với đối tượng tên B2 (sử dụng số điện thoại 0935.897.xxx, 0764586720 và tài khoản Ngân hàng V1 số 4570909090909 tên DO ANH BINH) là người thuê Tô Triệu V bán ma túy. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục xác minh, thu thập chứng cứ để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định Pháp luật.
- + Đối với Nguyễn Đình B1, Nguyễn Xuân T là người mua ma túy của V vào ngày 15/11/2022 đã bị Công an thành phố N ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và đang tiếp tục tiến hành điều tra, truy tố.
- + Đối với Trần T3 (tài xế xe G), được V thuê đến nhà xe K1 để nhận gói hàng, T3 không biết trong gói hàng chứa chất ma túy nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ án này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết về nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Tô Triệu V mức hình phạt 20 năm tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy các mẫu vật ma túy còn lại, tiêu hủy một cân điện tử, 1 gói giấy màu xanh lá cây và các bịch ny lông màu trắng; tịch thu sung công quỹ điện thoại và số tiền đã thu giữ của bị cáo Tô Triệu V; buộc bị cáo nộp lại ngân sách nhà nước số tiền 3,6 triệu đồng là tiền bán ma tuý đã nhận từ Nguyễn Xuân T.
Bào chữa cho bị cáo Tô Triệu V, luật sư Võ Thị Thúy N1 đồng ý về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc nhận thức pháp luật của bị cáo có phần hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt dưới mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Tô Triệu V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng hình sự: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án nhưng tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai ở cơ quan điều tra và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nói trên.
[2] Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Tô Triệu V khai nhận: Từ cuối tháng 10 năm 2022, Tô Triệu V nhận ma túy từ một người tên B2 (không xác định được lai lịch) và bán cho nhiều người như Nguyễn Hữu T1, Nguyễn Đình B1 và một số người không rõ lai lịch khác. Khối lượng ma túy bị cáo bị bắt giữ khi đang tàng trữ trên người và tại nơi ở với mục đích bán lại kiếm lời là 82,2769 gam MDMA và 106,44 gam Ketamine. Đồng thời, trước đó vào ngày 15/11/2022, Nguyễn Đình B1 và Nguyễn Xuân T bị bắt quả tang đang cùng nhau sử dụng 0,8241 gam Ketamine là ma tuý B1 mua của V, nhờ Nguyễn Xuân T trả tiền giúp để cả nhóm cùng sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo Tô Triệu V phù hợp với các biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh K, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận rằng, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Tô Triệu V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi của bị cáo Tô Triệu V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, làm lan truyền nạn nghiện ngập ma túy, các căn bệnh xã hội và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tổng khối lượng ma tuý bị cáo Tô Triệu V tàng trữ để bán và đã bán cho Nguyễn Đình B1, Nguyễn Xuân T là 82,2769 gam MDMA và 107,2641 gam Ketamine.
Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng các chất ma túy bị cáo Tô Triệu V mua bán thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Tô Triệu V mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn, bị cáo phạm tội nhiều lần nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe và hiệu quả giáo dục chung cho toàn xã hội. Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với lỗi cố ý nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như đề nghị của luật sư bào chữa.
Xem xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tô Triệu V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa kiến nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiếp tục tiến hành điều tra, xác minh nhân thân, lai lịch, xem xét những hành vi có dấu hiệu phạm tội của đối tượng tên B2 là người giao ma tuý cho Tô Triệu V, đối tượng có tên “Do Anh Binh” và xử lý theo quy định của pháp luật nếu có căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Bị cáo Tô Triệu V thừa nhận: Một điện thoại di động hiệu Iphone vỏ màu đen sử dụng số thuê bao 0987772393 là điện thoại được bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với các phong bì niêm phong ký hiệu A, B, D, E là ma túy còn lại sau giám định, 1 cân điện tử mini màu đen, nhiều bịch ny lông màu trắng có khóa khằn miệng kích thước (8x14)cm, 1 gói giấy màu xanh lá cây có biên nhận của ngà xe Khanh Phong, xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 3.600.000 đồng mà Nguyễn Xuân T đã chuyển khoản vào tài khoản của Tô Triệu V để thanh toán tiền mua ma tuý, xét thấy đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có, nên cần phải truy thu, buộc bị cáo nộp vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 2.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Tô Triệu V, bị cáo xác định đây là tiền bị cáo có được từ việc bán trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo Tô Triệu V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Tô Triệu V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Bị cáo TÔ TRIỆU VỸ 20 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (08/01/2023).
Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Tô Triệu V phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội là 3.600.000 đồng (Ba triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy:
- - Một hộp giấy niêm phong, dán kín, bên ngoài ghi “vụ 36-GT/2023"; Mẫu vật ký hiệu A có tổng khối lượng 78,3147 gam; Mẫu ký hiệu B có khối lượng 96,6567 gam, M ký hiệu D có khối lượng 4,4348 gam, M ký hiệu E có khối lượng 3,8860 gam”, có chữ ký niêm phong của Thượng tá Nguyễn Khắc H1, Nguyễn Ngọc Thanh T5, Hồ Hoàng T6 và hình dấu Phòng K Công an tỉnh K,
- - Một gói giấy màu xanh lá cây có dán biên nhận của nhà xe K1 với thông tin: “PNL0701230051, Người gửi: T7, Người nhận: Lực 0987772393”.
- - 01 cân điện tử mini màu đen (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
- - Nhiều bịch ny lông màu trắng có khóa khằn miệng kích thước (8x14)cm, bên trong không chứa gì.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone vỏ màu đen, sử dụng số thuê bao 0987772393 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng) và số tiền 2.500.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Tô Triệu V.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa và theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước ngày 11/4/2023 của Phòng Cảnh sát Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an tỉnh K vào tài khoản của Kho bạc nhà nước K2, mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh K3).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo Tô Triệu V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÂM VƯƠNG MỸ LINH |
Bản án số 60/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 60/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: To Trieu V - Tang tru
