|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 60/2024/HS-PT Ngày 23 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;
Các Thẩm phán: Ông Trần Công Đoàn và ông Nguyễn Đức Thủy.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 76/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo Quách Văn G; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Bị cáo có kháng cáo: Quách Văn G, sinh năm 1993 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn B và bà Nguyễn Thị H (đều đã chết); có vợ là Lèo Thị N và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Văn T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt.
- Bị hại không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị: Anh Dương Công S, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn V, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị: Anh Ngô Xuân Q, sinh năm 1984; địa chỉ: Đ N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1987 và anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1979; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 6/2016, anh Bùi Văn C là công nhân đang làm việc tại công trường xây dựng Bệnh viện H3 thuộc tổ dân phố T, phường L, thành phố P cho anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1988, trú tại thôn A, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang là người làm cùng mượn đôi giầy để anh H2 đi về quê. Đến ngày 04/6/2016, không thấy anh H2 quay trở lại nơi làm việc và cũng không liên lạc được nên anh C đã chửi đổng “Dân Tuyên Quang sống bẩn, mượn đôi giầy chưa trả”. Khi đó anh Nguyễn Văn H1 và anh Dương Công S cùng là công nhân tại công trường xây dựng Bệnh viện H3 là người cùng quê và ở cùng phòng với anh H2 đã nói chuyện với C về việc tại sao lại chửi cả dân Tuyên Quang. Lúc này anh H1 và anh S xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau với anh C. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đi ăn cơm về lán ở của công nhân tại công trường thì nhóm của anh H1, anh S cùng một vài người khác đã gặp anh C và Quách Văn G đang ở trước cửa phòng 37 khu lán ở công nhân. Anh H1 và anh C tiếp tục cãi chửi nhau thì G vào can ngăn nên cũng xảy ra mâu thuẫn với anh H1. Giới bị nhóm của H1 cầm gạch và gậy gỗ dí vào người doạ đánh nên G cầm theo chiếc điếu cày bằng tre dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 05cm đang dùng để hút thuốc lào đi về phía cửa phòng 36 (phòng ở của Sáng và H1). Khi đến trước cửa phòng 36 thì G bị nhóm của H1 tiếp tục đe doạ nên G đã dùng chiếc điếu cày ném về phía cửa phòng 36 làm một đầu của chiếc điếu cày trúng vào vùng má, mũi và môi trên bên phải của anh S làm anh S bị thương ngã ra đất bất tỉnh. Sau đó anh S được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H.
- * Vật chứng: Không thu giữ được.
- * Kết quả trưng cầu giám định: Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 79/TgT ngày 29/7/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh H, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Dương Công S hiện tại là 23%. Vết thương trên cơ thể do vật có cạnh gây nên. Căn cứ tài liệu điều tra đã thu thập được, ngày 10/8/2016 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với vụ án “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, do chưa đủ căn cứ xác định bị can trong vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Ngày 01/5/2024, Quách Văn G đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đầu thú và khai nhận hành vi của mình.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Quách Văn G phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Quách Văn G 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, bị cáo Quách Văn G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quách Văn G 30 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm; án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu.
Quan điểm của người bào chữa: Quá trình điều tra và tại các phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bố đẻ bị cáo mắc bệnh ung thư phổi giai đoạn IV và hiện nay bố mẹ bị cáo đều đã mất; bị cáo là lao động chính trong gia đình; sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án đưới mức thấp nhất của khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ, bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, nội dung đảm bảo theo quy định tại khoản 2 Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên là hợp lệ, được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Quách Văn G khai nhận hành vi của mình đúng như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn với nhóm công nhân làm cùng nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 04/6/2016, tại khu lán ở của công trường xây dựng Bệnh viện H3 thuộc tổ dân phố M, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Quách Văn G đã cầm điếu cày bằng tre dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 05cm ném trúng vào mặt của anh Dương Công S làm anh S bị tổn hại 23% sức khỏe. Như vậy, bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Quách Văn G phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo của bị cáo:
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bố bị cáo mắc bệnh ung thư phổi, hiện nay cả bố mẹ bị cáo đều đã chết. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy được định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu chứng minh bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong nhà, đang nuôi con nhỏ, trong thời gian cư trú tại địa phương bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định có xác nhận của chính quyền địa phương; xét thấy, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo một phần do lỗi của phía bị hại. Do vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội thì mức hình phạt 30 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp. Vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về kháng cáo xin hưởng án treo: Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới; bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm. Vì vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Quách Văn G; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2024/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Quách Văn G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Quách Văn G 30 (Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (23/10/2024).
Giao bị cáo Quách Văn G cho Ủy ban nhân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Quách Văn G không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Hải |
Bản án số 60/2024/HS-PT ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 60/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Quách Văn G phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Quách Văn G 30 (Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (23/10/2024).
