Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 – 7 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Bà Hồ Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm: 1997 (có mặt).

    Địa chỉ: Ấp 8, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

  2. Bị đơn: Anh Lê Hoàng Th, sinh năm: 1995 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Ấp 8, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2018 chị T và anh Th tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 05/11/2018. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Hoàng Th.

Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung tên Lê Hoàng Lam A (giới tính nữ), sinh ngày 14/5/2019. Hiện nay cháu Lam Anh đang sống chung với chị T nên chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Hoàng Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn Lê Hoàng Th.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều T. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với anh Lê Hoàng Th. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Hoàng Lam Anh (giới tính nữ), sinh ngày 14/5/2019. Chị Nguyễn Thị Kiều T không yêu cầu anh Lê Hoàng Th cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Lê Hoàng Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.

Về án phí nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn”, căn cứ các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Lê Hoàng Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn và dành quyền kháng cáo cho bị đơn theo luật định.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Lê Hoàng Th tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 05/11/2018 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

[3.2] Xét nguyên nhân yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T: Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc nhưng dần về sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị T yêu cầu ly hôn với anh Th. Xét thấy, chị T và anh Th có thời gian ly thân nhưng vợ chồng anh chị vẫn không tìm được tiến nói chung, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa anh chị là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T.

[3.3] Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung tên Lê Hoàng Lam A (giới tính nữ), sinh ngày 14/5/2019. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, theo biên bản xác minh ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ thì hiện nay cháu Lam A đang sống chung với chị T, chị T đảm bảo điều kiện để nôi dưỡng con chung. Mặt khác, quá trình sinh sống ở địa phương chị T luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật. Anh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên anh Th không có ý kiến về việc chị T yêu cầu nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của cháu Lê Hoàng Lam nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lê Hoàng Lam A cho chị Nguyễn Thị Kiều T tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị Kiều T không yêu cầu anh Lê Hoàng Th cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Anh Lê Hoàng Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều T.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với anh Lê Hoàng Th. Giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 05/11/2018 không còn giá trị pháp lý.
  3. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Hoàng Lam A (giới tính nữ), sinh ngày 14/5/2019. Chị Nguyễn Thị Kiều T không yêu cầu anh Lê Hoàng Th cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

    Anh Lê Hoàng Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo lai thu số 0007769 lập ngày 08 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
  • - UBND xã Long Trị;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Đình Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Năm 2018 chị T và anh Th tự nguyện tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 05/11/2018. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Hoàng Th. Về con chung: Chị T và anh Th có 01 con chung tên Lê Hoàng Lam A (giới tính nữ), sinh ngày 14/5/2019. Hiện nay cháu Lam Anh đang sống chung với chị T nên chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger