TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 6 - 2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Nguyễn Đình Hoài
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 50/2024/ TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 33/2024/QĐXX - ST ngày 16 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QÐST - HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2024/QĐ-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn L, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Lê Xuân N, sinh năm 1994; Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinh sống và lao động tại Hungary. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Trần Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Lê Xuân N đăng ký kết hôn ngày 23/02/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì tháng 9 năm 2023 anh N đi lao động tại Hungary còn chị H ở nhà sinh sống cùng bố mẹ chồng. Đến đầu năm 2024, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng mỗi người ở một nơi nên không có điều kiện quan tâm chăm sóc nhau. Đồng thời, anh N không chung thủy, đã có tình cảm với người khác. Hiện tại hai vợ chồng đã cắt đứt liên lạc với nhau, chị H xác định không còn tình cảm với anh N nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh N.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Lê Quỳnh A, sinh ngày 27/6/2023. Hiện nay con chung đang sống cùng với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi nhận sự việc thông qua việc gọi điện (ghi âm, ghi hình) qua tài khoản mạng xã hội với anh N do người thân cung cấp, có sự chứng kiến của ông Lê Xuân C (bố đẻ của anh N), nội dung anh trình bày như sau:
Về thời điểm, điều kiện kết hôn, hôn nhân hợp pháp và mâu thuẫn vợ chồng như chị H khai là đúng. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh cũng đã có tình cảm riêng với người phụ nữ khác ở nước ngoài nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, nay chị H yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Lê Quỳnh A, sinh ngày 27/6/2023. Nay cháu đang sống cùng với chị H. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt anh và ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho bố đẻ là ông Lê Xuân C, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn L, xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 123; 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Đoạn 2 điểm b tiểu mục 2.1, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao tuyên xử:
- Chị Trần Thị H ly hôn với anh Lê Xuân N.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Lê Quỳnh A, sinh ngày 27/6/2023, nay đang sống cùng với chị H. Khi ly hôn, giao cháu Lê Quỳnh A cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
- Về án phí: Áp dụng Điều 143; khoản 4 Điều 147; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Xuân N đang sống và làm việc tại Hungary. Theo công văn số 488/PA08 - Đ1 ngày 02/6/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công An tỉnh H thì anh Lê Xuân N đã xuất cảnh lần cuối ngày 25/9/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do điều kiện công việc nên anh N đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu liên quan đến vụ án đề nghị Tòa án gửi về cho bố đẻ là ông Lê Xuân C để giao nhận các tài liệu liên quan đến vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị H và anh N theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Lê Xuân N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 23/02/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Í, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, do điều kiện hoàn cảnh kinh tế gia đình nên anh N đi lao động tại Hungary. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian đến đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, mỗi người ở một nơi nên tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Chị H xác định không còn tình cảm với anh N, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Anh N cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, anh hiện đã có tình cảm với người khác nên chị H xin ly hôn, anh đồng ý.
Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị H và anh N không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Hiện tại, các đương sự đều tự nhận thấy không còn tình cảm với nhau và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên đồng thuận ly hôn. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Lê Quỳnh A, sinh ngày 27/6/2023, hiện đang sống cùng với chị H. Chị H và anh N đều thống nhất giao con chung cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự là giao con chung cho chị H được chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên. Anh N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 123; 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 28; Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Lê Xuân N.
2. Về con chung: Giao con chung Lê Quỳnh A, sinh ngày 27/6/2023 cho chị Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lê Xuân N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Buộc chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 0000815 ngày 14/3/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Thư |
Bản án số 60/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 60/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị H yêu cầu ly hôn với anh Lê Xuân N
