|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2024/DS-ST
Ngày: 30/9/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng cung
ứng dịch vụ tưới tiêu.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Thanh Hoàng;
- Ông Nguyễn Lâm Tới.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2024/TLST-DS ngày 27/5/2024 về việc:
“Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ tưới tiêu”
theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 219/2024/QĐXXST-DS ngày 27/8/2024, Quyết định hoãn phiên toà số
174/2024/QÐST-DS ngày 13/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1955; nơi cư trú: Tổ C ấp P, xã A,
thị xã T, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Lưu Văn D, sinh năm 1954; nơi cư trú: ấp T, xã A, thị xã T,
tỉnh An Giang.
Các đương sự có mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và ý kiến trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lê
Văn Đ trình bày:
Trước đây nguyên đơn làm trạm bơm để phục vụ tưới tiêu nông nghiệp
cho bà con nông dân ở khu vực xã A và bị đơn ông Lưu Văn D canh tác 12.000
m2 đất trồng lúa trong khu vực trạm bơm do nguyên đơn quản lý.
Sau mỗi vụ thu hoạch lúa, nguyên đơn đều đến thu tiền bơm nước tưới
tiêu nhưng bị đơn viện lý do lúa thất mùa hẹn lại vụ sau. Số tiền bị đơn chưa
thanh toán 04 vụ là 9.120.000 đồng; giá hai bên thỏa thuận bơm tưới tiêu bình
quân là 190.000 đồng/1000m2/vụ.
Ngày 04/11/2022 tại Văn phòng ấp T có buổi làm việc, bị đơn có trình
bày không có khả năng đóng đủ số tiền 9.120.000 đồng, xin trả 3.000.000 đồng,
nguyên đơn không đồng ý. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Lưu
Văn D trả cho số tiền bơm tưới tiêu còn nợ là 9.120.000 đồng, không yêu cầu
tính lãi.
Ý kiến trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Lưu Văn D trình bày:
Bị đơn thuê đất canh tác khoảng 12.000m2; đất toạ lạc tại ấp T, xã A, thị
xã T nằm trong trạm bơm do nguyên đơn ông Lê Văn Đ làm trạm bơm phục vụ
công tác tưới tiêu nông nghiệp.
Hàng năm, bị đơn đều trả chi phí tưới tiêu cho nguyên đơn đầy đủ. Năm
2019 do mưa lũ lúa bị ngập vì thế không trả tiền tưới tiêu cho nguyên đơn. Bị
đơn xác định trước giờ vẫn đóng đủ, chỉ có 01 vụ năm 2019 là không đóng tiền
và năm đó bị đơn trả lại đất cho chủ, không tiếp tục canh tác.
Bị đơn cũng cho biết, tại biên bản làm việc ngày 04/11/2022, bị đơn có
trình bày ý kiến và ký tên trong biên bản nhưng biên bản viết không đúng nội
dung, bị đơn chỉ có nợ nguyên đơn 01 vụ bơm nước chưa trả khoảng 2.800.000
đồng và bị đơn đồng ý trả 3.000.000 đồng là hết nợ.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý, bị đơn
xác định chỉ nợ nguyên đơn 01 vụ, bình quân chi phí tưới tiêu theo thoả thuận là
190.000 đồng/1000m2/vụ.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn, bị đơn xác định không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ
nào khác, nguyên đơn đồng ý giảm cho bị đơn số tiền 4.129.000 đồng, xác định
chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lưu Văn D trả số tiền bơm tưới tiêu còn nợ là
5.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn không đồng ý đối với số tiền mà nguyên đơn khởi kiện, chỉ đồng
ý trả số tiền tưới tiêu còn nợ là 3.000.000 đồng.
Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ
thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (gọi tắt là BLTTDS).
Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng
dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy
định tại Điều 70, 71, 73 BLTTDS.
+ Về giải quyết vụ án:
Nguyên đơn, bị đơn thống nhất có xác lập thỏa thuận sử dụng dịch vụ
bơm nước tưới tiêu; thỏa thuận này là tự nguyện, không trái đạo đức, xã hội nên
làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên. Theo biên bản làm việc ngày
04/11/2022 tại Văn phòng Ấ có thể hiện nội dung bị đơn còn nợ tiền tưới tiêu
của nguyên đơn số tiền 9.120.000 đồng có chữ ký tên xác nhận của bị đơn và Tổ
hòa giải ấp T. Đồng thời tại biên bản xác minh ngày 07/8/2024, ông Nguyễn
Triệu P – Tấp T xác nhận sự việc bị đơn có trình bày thừa nhận như biên bản
làm việc ngày 04/11/2022. Từ đó, cho thấy bị đơn không thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ trả nợ là vi phạm thỏa thuận nghĩa vụ trả tiền quy định tại Điều 519 Bộ luật
dân sư năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền
5.000.000 đồng, giảm 4.120.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 513,
515, 516, 517, 518 và 519 Bộ luật dân sự năm 2015 xử, chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền
5.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem
xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy:
Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền bơm tưới tiêu
còn nợ, không yêu cầu tính lãi. Xét, đây là tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp
đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3
Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (gọi tắt là BLTTDS); bị đơn cư
trú tại ấp T, xã A, thị xã T nên Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền
được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số
tiền 5.000.000 đồng, giảm 4.120.000 đồng cho bị đơn và không yêu cầu tính lãi.
Xét, đây là sự tự nguyện và quyền tự định đoạt của nguyên đơn nên Toà án chỉ
xem xét, giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy
định tại Điều 5 BLTTDS.
Về nội dung:
[3] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng quá trình giải
quyết vụ án, bị đơn thừa nhận có thỏa thuận bơm nước tưới tiêu với nguyên đơn
cho phần đất có diện tích 12.000 m2 tọa lạc tại ấp T, xã A, thị xã T. Do đó, có
căn cứ xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập hợp đồng dịch vụ bơm
tưới tiêu.
Khoản 1 Điều 519 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Bên sử dụng dịch
vụ phải trả tiền dịch vụ theo thoả thuận.
Bị đơn cho rằng chỉ còn nợ nguyên đơn 01 mùa vụ vào năm 2019 tương
đương số tiền 2.800.000 đồng. Tuy nhiên, xem xét biên bản hoà giải ngày
04/11/2022 tại Văn phòng Ấ, có thể hiện nội dung bị đơn trình bày “Tôi có nợ
tiền tưới tiêu của T bơm 1-3 với số tiền là 9.120.000 do hoàn cảnh khó khăn tôi
không có khả năng đóng đủ....”.
Đồng thời tại biên bản xác minh ngày 07/8/2024, ông Nguyễn Triệu P –
Trưởn ấp T cũng cho biết: Ông Lưu Văn D có trình bày thừa nhận như biên bản
làm việc ngày 04/11/2022.
Ngoài ý kiến như đã trình bày, bị đơn không cung cấp được nguồn chứng
cứ chứng minh. Do đó, việc bị đơn cho rằng chỉ nợ nguyên đơn số tiền
2.800.000 đồng của 01 vụ mùa năm 2019 là không có cơ sở chấp nhận. Ngoài
ra, với các chứng cứ như đã viện dẫn nêu trên, có căn cứ xác định số tiền bơm
tưới tiêu bị đơn còn nợ nguyên đơn là 9.120.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa
nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bị đơn trả 5.000.000 đồng, giảm cho bị đơn số
tiền 4.120.000 đồng, đây là quyền tự định của nguyên đơn nên chấp nhận, buộc
bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng như quan điểm
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về án phí, bị đơn có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ
thẩm. Bị đơn có đơn xin miễn án phí với lý do bị đơn hiện trên 60 tuổi, mất sức
lao động, xét miễn án phí cho bị đơn theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 513, 518, 519 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 và Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn Đ;
Buộc bị đơn ông Lưu Văn D có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Lê
Văn Đ số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm
2015.
[2] Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bị đơn ông Lưu Văn D.
Nguyên đơn ông Lê Văn Đ không phải chịu án phí.
[3] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ tưới tiêu
- Số bản án: 60/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ tưới tiêu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hợp đồng dịch vụ tưới tiêu
