Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

 

Bản án số: 60/2024/DS-ST

Ngày 28-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Nam Tuấn
Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mong - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 04 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ trụ sở: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Bỉnh C - Chuyên viên Quản lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Chi nhánh H1; địa chỉ: Số F phố T, phường T, Quận L, thành phố Hải Phòng (đại diện theo ủy quyền, Giấy ủy quyền số 99/2022/GUQ-CNHP ngày 30/12/2022); có mặt.

  2. Bị đơn: Bà Phan Thu H, sinh năm 1997; nơi thường trú: Số D đường Đ, phường L, Quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/04/2019, bà Phan Thu H và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (viết tắt là Ngân hàng) có ký với Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế số thẻ 486265 - 6708 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Phan Thu H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng loại Thẻ Quốc tế Visa Ladies F với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 2,15%/tháng. Ngày 06/8/2019, Ngân hàng có Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT điều chỉnh lãi suất đối với các loại thẻ tín dụng là 2,6%/tháng. Sau khi phát hành thẻ Quốc tế Visa Ladies F, Ngân hàng đã tiến hành ký và giao nhận thẻ Quốc tế Visa Ladies F cho bà Phan Thu H. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng thẻ, nhiều kỳ bà Phan Thu H không thanh toán cho Ngân hàng đúng hạn. Do bà Phan Thu H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/10/2022 toàn bộ dư nợ còn thiếu chuyển sang quá hạn là 22.700.867 đồng và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Phan Thu H và áp dụng lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn được quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng là Tòa án nơi bà H đã cung cấp địa chỉ cho Ngân hàng khi ký kết Hợp đồng tín dụng giải quyết tranh chấp.

Tại Công văn số 2956/QLXNC-P3 ngày 05/02/2024 của Cục Q Bộ C1 cung cấp: Bà Phan Thu H, sinh ngày 05/11/1997, số CCCD: [...]; đăng ký hộ khẩu thường trú tại Số D đường Đ, phường L, Quận N, thành phố Hải Phòng đã xuất cảnh 04 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 14/7/2019, không có thông tin về nước nhập cảnh; hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà Phan Thu H trả ngay cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 20/02/2023 là 26.272.698 đồng; bao gồm: Nợ gốc: 22.700.867 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.570.831 đồng.
  2. Bà Phan Thu H phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kể từ ngày 21/02/2023 đến khi trả hết nợ.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi được lời khai của bị đơn và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà Phan Thu H phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 28/6/2024 là 40.850.132 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 22.700.867 đồng; tiền lãi quá hạn: 18.149.265 đồng.
  2. Buộc bà Phan Thu H phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng kể từ ngày 29/6/2024 đến khi trả hết nợ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về việc xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách đương sự, mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp, yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, việc xác minh, thu thập chứng cứ, việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, về thời hạn giải quyết vụ án và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương thức trực tiếp và niêm yết công khai theo đúng quy định tại các điều 177, 178, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong vụ án này, bị đơn không có mặt tại nơi cư trú theo địa chỉ ghi trên hợp đồng nên có căn cứ để xác định việc niêm yết công khai tại địa chỉ ghi trên hợp đồng của bị đơn là bảo đảm quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 147; Điều 469; Điều 471 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463; 465; 466; 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Phan Thu H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 28/6/2024 là 40.850.132 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 22.700.867 đồng; tiền lãi quá hạn: 18.149.265 đồng. Bà Phan Thu H phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

  1. Đây là vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với cá nhân không có mục đích lợi nhuận, bà Phan Thu H hiện đã xuất cảnh ra nước ngoài. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành việc cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn là bà Phan Thu H nhưng không thực hiện được. Tòa án đã tiến hành xác minh địa chỉ bà Phan Thu H nhưng không xác định được nơi cư trú hiện nay của bà Phan Thu H. Ngoài địa chỉ bà Phan Thu H ghi trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/04/2019, nguyên đơn cũng không cung cấp được địa chỉ nào khác. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành việc niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và giải quyết vụ án theo trường hợp cố tình giấu địa chỉ được quy định tại đoạn 1 điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, tại phiên tòa bị đơn là bà Phan Thu H vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Phan Thu H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

  1. Về tính pháp lý của Hợp đồng tín dụng: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản các điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng do bà Phan Thu H ký ngày 16/04/2019 phù hợp với quy định tại các điều 385; 398; 400; 401 của Bộ luật Dân sự. Các bên tham gia giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, các điều khoản của hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng nêu trên là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
  2. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hội đồng xét xử xét: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/04/2019 và Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Bản các điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng với bà Phan Thu H được thể hiện bằng văn bản; chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là những người có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau khi ký hợp đồng này, Ngân hàng đã giải ngân cho bà Phan Thu H bằng việc cấp cho bà Phan Thu H 01 Thẻ tín dụng Quốc tế Visa Ladies F có hạn mức 20.000.000 đồng.
  3. Quá trình sử dụng Thẻ tín dụng này, nhiều kỳ bà Phan Thu H không thanh toán cho Ngân hàng đúng hạn nên ngày 23/10/2022 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ gốc quá hạn, chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Phan Thu H và áp dụng lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Bản các điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
  4. Xét thấy lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn của thẻ đã được Ngân hàng quy định tại Điều 23 của Bản các điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, bà Phan Thu H đã biết quy định về lãi suất của thẻ tín dụng được cấp.
  5. Tại đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thu H trả ngay cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20/02/2023 là 26.272.698 đồng; bao gồm: Nợ gốc: 22.700.867 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.570.831 đồng. Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền tính đến hết ngày 28/6/2024 là 40.850.132 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc: 22.700.867 đồng; tiền lãi quá hạn: 18.149.265 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên có đủ căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 466 của Bộ luật Dân sự.
  6. Đối với yêu cầu của Ngân hàng buộc bà Phan Thu H phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kể từ ngày 29/6/2024 đến khi trả hết nợ. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu này là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận. Vì vậy, cần buộc bà Phan Thu H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng, Bản các điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản các điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[9] Về án phí:

  1. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn là bà Phan Thu H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho nguyên đơn là: 40.850.132 đồng x 5% = 2.042.507 đồng.
  2. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 656.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp.

[10] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 469; Điều 147; đoạn 1 điểm e khoản 1 Điều 192; các điều 227; 228; 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 117; 119; 385; 398; 400; 401; 463; 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ các điều 90; 91; 94; 95; 98 của Luật Các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Điều 8; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

X:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

    Buộc bà Phan Thu H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc là 22.700.867 đồng và số tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 28/6/2024 là 18.149.265 đồng; tổng cộng là 40.850.132đ (Bốn mươi triệu tám trăm năm mươi nghìn một trăm ba mươi hai đồng).

    Kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án (bà Phan Thu H) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng và Bản các điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Phan Thu H phải nộp 2.042.507đ (Hai triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm linh bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 656.000đ (Sáu trăm năm mươi sáu đồng), là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003002 ngày 06 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • - Bà Phan Thu H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  4. Về quyền yêu cầu thi hành án:

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - Lưu: VP; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 60/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Dân sự sơ thẩm có yếu tố nước ngoài về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger