Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 60/2024/DS-ST

Ngày: 17-7-2024

V/v tranh chấp hụi.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hai
  2. Ông Nguyễn Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên toà:

Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 6 và 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2024, về “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Phụng G, sinh năm 1957 (Có mặt);

Địa chỉ: Số A ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1981 (Vắng mặt);

Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1981(Vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Số C ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Trương Phụng G trình bày:

Bà Trương Phụng G có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Mỹ L chủ hụi gồm:

Dây hụi thứ nhất: Khui ngày 10/02/2019, kết thúc ngày 10/5/2020, loại hụi 2 triệu/tháng, gồm 16 hụi viên, bà G tham gia 1 phần. Bà G đã đóng hụi được 9 lần số tiền đóng 14.400.000đ, đến nay chưa hốt hụi; Dây hụi thứ hai: Khui ngày 20/6/2019, kết thúc ngày 20/9/2020, hụi 3 triệu/tháng, gồm 16 hụi viên, bà G tham gia 1 phần. Bà G đã đóng hụi 5 lần số tiền đóng 11.750.000đ, đến nay chưa hốt hụi.

Ngoài ra, bà G có tham gia 100 phần hụi ngày, đã đóng tổng cộng được số tiền 74.000.000đ. Phần hụi này bà L và ông P có viết biên nhận xác nhận nợ 74.000.000đ (Trong biên nhận ông P ghi tên là Huỳnh Văn K là tên gọi thường ngày của ông P). Tổng số tiền hụi bà G đã đóng cho bà L là 100.150.000đ. Hiện nay các dây hụi đã mãn.

Nay bà Trương Phụng G yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Huỳnh Văn P liên đới trả số tiền hụi 100.150.000đ (Một trăm triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, bà G không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Huỳnh Văn P vắng mặt không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn có đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L trả cho bà G số tiền hụi 100.150.000đ. Bác yêu cầu ông P liên đới do chưa đủ căn cứ xác định ông Huỳnh Văn K trong biên nhận và ông Huỳnh Văn P là cùng một người.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền nợ hụi nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hụi”.

Về thẩm quyền: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Địa chỉ cư trú của bị đơn tại thành phố S nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Huỳnh Văn P vắng mặt không lý do, cũng không có người đại diện tham gia tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chứng cứ nguyên đơn giao nộp có 2 sổ hụi gồm:

Dây hụi thứ nhất: Khui ngày 10/02/2019, kết thúc ngày 10/5/2020, loại hụi 2 triệu/tháng, gồm 16 hụi viên, bà G tham gia 1 phần tên “Dì Giao”. Bà G đã đóng hụi được 9 lần số tiền đóng 14.400.000đ, đến nay chưa hốt hụi.

Dây hụi thứ hai: Khui ngày 20/6/2019, kết thúc ngày 20/9/2020, hụi 3 triệu/tháng, gồm 16 hụi viên, bà G tham gia 1 phần tên “Dì 5 Giao”. Bà G đã đóng hụi 5 lần số tiền đóng 11.750.000đ, đến nay chưa hốt hụi.

Theo thông tin trong sổ hụi thì bà Nguyễn Thị Mỹ L là chủ hụi. Như vậy, có cơ sở xác định bà G có tham gia 2 dây hụi do bà L làm chủ hụi đúng như nguyên đơn đã trình bày. Theo nguyên đơn, quá trình tham gia 2 dây hụi đã đóng hụi sống của 2 dây hụi được số tiền 25.160.000đ, đến nay chưa hốt hụi.

Ngoài ra, theo biên nhận ngày 01/12/2019 bà G còn trình bày bà L và ông Huỳnh Văn P (Trong biên nhận ghi trên Huỳnh Văn K) còn nợ số tiền 74.000.000đ hụi ngày. Tổng số tiền hụi bà G đã đóng cho bà L là 100.150.000đ. Hiện nay các dây hụi đã mãn.

Theo bà G trình bày sau khi bà L bể hụi, bà G có tố giác tại cơ quan công an. Theo Quyết định không khởi tố vụ ánsự số 45/QĐ-CQCSĐT ngày 24/10/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S không khởi tố vụ án hình sự do không có dấu hiệu tội phạm. Tại Biên bản đối chiếu nợbà L và bà G ngày 17/10/2020 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sa Đéc lập thì bà L thừa nhận còn nợ tiền hụi của bà G với tổng số tiền là 100.150.000đ, phù hợp với trình bày của bà G.

Đối với bà L, ông P kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà L, ông P bằng hình thức niêm yết công khai các văn bản tố tụng và giấy triệu tập theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng bà L, ông P vẫn không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Phụng G.

Điều 91 BLTTDS quy định. Nghĩa vụ chứng minh

  1. ...
  2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.”

[2.2] Từ đó cho thấy rằng, bà L, ông P đã từ bỏ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và không có ý phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà G. Do đó, việc bà G yêu cầu bà L trả lại số tiền hụi sống mà bà G đã đóng cho bà L với tổng số tiền là 100.150.000đ là có căn cứ nên chấp nhận.

[2.3] Về yêu cầu ông P liên đới HĐXX thấy rằng:

Quá trình thu thập chứng cứ xác định đối với ông Huỳnh Văn P là chồng bà L (Theo trích lục kết hôn số 456/TLKH-BS ngày 27/6/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S), mặc dù ông P không tham gia hụi nhưng ông P với bà L cùng ký biên nhận nợ hụi của bà G. Qua xác minh Ban N, xã T cùng những người lân cận nơi cư trú của ông P, bà L gồm ông Đỗ Hoàng Ầ, bà Đỗ Thị Bảo K1, ông Nguyễn Uy P1 tại phiên tòa đều xác nhận ông Huỳnh Văn P có tên thường gọi là Huỳnh Văn K, hàng ngày vẫn gọi ông P là ông K. Ngoài ra, theo xác minh tại Ban N cung cấp hiện ông P vẫn đi làm, về nhà hàng ngày.

Mặc dù, đối với số tiền nợ 2 dây hụi tháng 25.160.000₫ bà G không có chứng cứ về việc ông P tham gia hay biết được số nợ hụi này. Tuy nhiên như đã phân tích ông P cùng ký biên nhận nợ hụi 74.000.000đ với bà L, qua đó chứng tỏ rằng ông P biết được việc bà L làm chủ hụi và thiếu nợ hụi viên, cũng thừa nhận có trách nhiệm cùng với vợ là bà L để trả nợ cho các hụi viên.

Do đó, ông P cũng có trách nhiệm liên đới với bà L trả nợ cho bà G số tiền nợ hụi 100.150.000đ như bà G yêu cầu là phù hợp nên chấp nhận.

[3] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà L, ông P liên đới trả cho bà G tiền hụi còn nợ là 100.150.000đ (Một trăm triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).

[4] Với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát buộc bà L trả nợ hụi cho bà G 100.150.000đ; không thống nhất một phần đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc không buộc ông P liên đới do chưa đủ căn cứ xác định ông Huỳnh Văn K trong biên nhận và ông Huỳnh Văn P là cùng một người như đã phân tích.

[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ quy định về Họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Phụng G.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Huỳnh Văn P liên đới trả cho bà G số tiền hụi 100.150.000đ (Một trăm triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Mỹ L, ông Huỳnh Văn P nộp 5.007.500đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Trương Phụng G thuộc trường hợp miễn tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày hôm nay tuyên án, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện Kiểm sát TP. Sa Đéc;
  • - Tòa án Tỉnh;
  • - Chi cục Thi hành án TP Sa Đéc;
  • - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 60/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trả lại số tiền hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger