Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/DS-PT

Ngày 25-11-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Túc
Các Thẩm phán:Bà Hoàng Thị Mai Hạnh
Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Bùi Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 18 và ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 118/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 79A/2024/QĐPT-DS ngày 06/11/2024, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 664/TB-TA ngày 11/11/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Tiêu D, sinh năm 1974 (được ủy quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 27/7/2023; địa chỉ: Tổ B, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

  2. Bị đơn: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Song H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  4. Người làm chứng: Chị Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
  5. Người kháng cáo: Bà Trịnh Thị T là bị đơn.

1

Tại phiên tòa bà D, bà T, chị T1 có mặt; ông Đ, ông H vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2023, bản trình bày ngày 08/8/2023, biên bản đối chất ngày 19/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Vũ Thị Tiêu D trình bày như sau:

Ngày 26/02/2021 bà Trịnh Thị T đến nhà gặp ông Đ hỏi vay số tiền 890.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng. Đến ngày 16/6/2021 vay tiếp 60.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, hai lần vay bà T đều viết giấy mượn tiền, lãi suất hai bên thoả thuận bằng miệng 02% tháng. Nhằm bảo đảm cho khoản vay bà T tự nguyện thế chấp cho ông Đ 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất, tại xã N, huyện T. Khi hết thời hạn thoả thuận ông Đ đã nhiều lần yêu cầu bà T thực hiện nghĩa vụ cam kết nhưng bà T không thực hiện.

Nay nguyên đơn yêu cầu bà T trả tổng số tiền 1.405.000.000 đồng, trong đó nợ gốc vay 950.000.000 đồng, tiền nợ lãi 455.000.000 đồng. Tại phiên toà bà D thay đổi yêu cầu về tính lãi, bà yêu cầu bà T trả tiền lãi của 02 khoản vay số tiền là 291.611.198 đồng.

Theo bản trình bày ngày 21/7/2023, biên bản đối chất ngày 19/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trịnh Thị T trình bày như sau:

Bà hoàn toàn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Phạm Văn Đ yêu cầu bà trả cho ông số tiền gốc 950.000.000 đồng và tiền lãi 546.200.000 đồng là không đúng thực tế.

Năm 2021 bà mượn của bà D số tiền 890.000.000 đồng, bà D thoả thuận với bà nhờ ông Phạm Văn Đ đứng tên trong giấy mượn tiền và bà đồng ý. Vì vậy giấy mượn tiền ngày 26/02/2021, thời hạn vay 12 tháng, ghi tên ông Đ nhưng thực chất là bà D đưa tiền. Quá trình trả lãi hàng tháng 5% tháng bà đều giao tiền trực tiếp cho bà D.

Đối với số tiền 60.000.000 đồng vay ngày 16/6/2021, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất 5%/tháng, bà đã trả hàng ngày cho bà D, mỗi ngày 2.000.000 đồng và hiện nay đã trả hết. Chứng cứ bà sẽ cung cấp cho Toà án từ ngày 19/10/2023 đến ngày 11/11/2023, nếu bà không cung cấp Toà án giải quyết theo pháp luật. Hiện nay bà chỉ còn nợ số tiền 890.000.000 đồng, không nợ tiền lãi, do đó bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo đơn trình bày ngày 01/10/2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Song H trình bày như sau:

Ông không quen biết với ông Phạm Văn Đ và không có quan hệ tiền bạc gì với ông Đ. Việc vay mượn tiền giữa ông Đ và bà T, ông không biết, không liên quan. Bà T cũng không sử dụng tiền vay để phục vụ mục đích công việc gia đình hay nhu cầu chung vợ chồng trong hôn nhân, nên đây là nợ riêng của bà T. Do đó, ông đề nghị không ràng buộc nghĩa vụ pháp lý gì đối với ông.

2

Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS–ST ngày 14/3/2024, Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 22/2024/QĐ-SCBSBA ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ

    Buộc bà Trịnh Thị T có trách nhiệm trả cho ông Phạm Văn Đ. Tổng số tiền là: 1.241.611.198 đồng (Một tỷ hai trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm mười một ngàn một trăm chín mươi tám đồng). Trong đó tiền gốc vay 950.000.000 đồng, tiền lãi là: 291.611.198 đồng.

  2. Về án phí: Bà Trịnh Thị T phải chịu số tiền 49.248.335 đồng (Bốn mươi chín triệu, hai trăm bốn mươi tám ngàn, ba trăm ba mươi lăm đồng (800.000.000 đồng = 36.000.000 đồng; 441.611.198 x 3% = 13.248.335 đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại số tiền 28.443.000 đồng, tiền tạm ứng án phí cho ông Phạm Văn Đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0006603 ngày 10/7/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án.

Ngày 23/4/2024, bị đơn bà Trịnh Thị T có đơn kháng cáo hợp lệ yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy bản án sơ thẩm số 03/2024/DS–ST ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bị đơn là đảm bảo về thời hạn, chủ thể, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn bà Trịnh Thị T. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa theo hướng: Buộc bà T phải trả cho ông Đ tổng số tiền là 1.226.417.408 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 942.500.000 đồng, tiền lãi của hai khoản vay 890.000.000 đồng và 52.500.000 đồng là 283.917.408 đồng.

Đối với 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T đưa cho ông Đ giữ để làm tin cho việc vay tiền của ông Đ, hiện nay bà D đang giữ. Bà D tự nguyện trả lại 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho bà T khi bà T thanh toán xong toàn bộ tiền nợ gốc, lãi của hai khoản vay nêu trên cho ông Đ.

3

Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Vế tố tụng:

[1] Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên án cùng ngày 14/3/2024, tại phiên tòa sơ thẩm bà T vắng mặt. Ngày 28/3/2024 bà T nhận được Bản án sơ thẩm. Ngày 11/4/2023, Tòa án cấp sơ thẩm nhận được đơn kháng cáo của bà T và ngày 23/4/2024 bà T có đơn kháng cáo hợp lệ gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó,việc kháng cáo của bà T trong thời hạn kháng cáo và nội dung đơn kháng cáo đảm bảo các quy định tại Điều 271, 272, 275 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

[2] Nguyên đơn ông Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền của ông Đ có mặt tại phiên tòa. Phiên tòa ngày 03/10/2024, bị đơn bà T có mặt tại phiên tòa, tuy nhiên vì lý do cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa. Tòa án đã mở lại phiên tòa ngày 06/11/2024, bà T có mặt tại phiên tòa nhưng vì lý do sức khỏe nên bà T không thể tiếp tục phiên tòa và yêu cầu Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa. Tòa án đã mở lại phiên tòa ngày 18/11/2024, nhưng tại phiên tòa bà T vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Song H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[II] Về nội dung:

[1] Xét ý kiến của bà T kháng cáo cho rằng bà D là người trực tiếp đưa tiền, bà và bà D thoả thuận nhờ ông Phạm Văn Đ đứng tên, tiền của bà D cho bà T vay chứ không phải tiền của ông Đ, từ trước đến nay bà T chưa từng vay tiền hay làm việc với ông Đ, bà T đều trả lãi hàng tháng cho bà D, bà T không đồng ý trả tiền cho ông Đ như cấp sơ thẩm đã tuyên án mà bà chỉ đồng ý trả tiền cho bà D. Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại giấy mượn tiền ngày 26/2/2021(Bút lục 35) có nội dung: “Tôi tên: Trịnh Thị T...Nay tôi viết giấy này có mượn của Ông(bà): Phạm Văn Đ... Số tiền mượn: 890.000.000 đồng... Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày 26/2/2021 đến ngày... Lãi suất: Thỏa thuận...Hình thức trả gốc, lãi và phí: Trả lãi hàng tháng + gốc trả 1 lần...”.

Tại Giấy mượn tiền ngày 16/6/2021 (Bút lục 34) có nội dung: “Tôi tên: Trịnh Thị T...Nay tôi viết giấy này có mượn của Ông(bà): Phạm Văn Đ... Số tiền mượn: 60.000.000 đồng... Thời hạn vay: Góp ngày 2 triệu từ ngày 16/6/2021 đến ngày 16/7/2021 ... Lãi suất: Thỏa thuận...”

4

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tại 02 giấy mượn tiền đều thể hiện bà T vay tiền của ông Phạm Văn Đ, không thể hiện bà Vũ Thị Tiêu D là người cho bà T vay tiền.

Tại Biên bản làm việc 09/10/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Vũ Thị Tiêu D và bị đơn là bà Trịnh Thị T đều thừa nhận: Đối với khoản vay 890.000.000 đồng bà T viết giấy mượn tiền tại nhà bà D là giấy chốt nợ từ 02 - 03 khoản vay trước đó, các giấy nợ này đã huỷ bỏ nên không còn; tại giấy mượn tiền ngày 26/02/2021 bà T cũng tự tay viết vào mặt sau của giấy mượn tiền nội dung: “Tờ giấy mượn nợ này thay cho các giấy mượn nợ trước tôi đã ghi cho ông Đ”; bà T là người tự ghi tên ông Phạm Văn Đ là người cho vay trên giấy mượn tiền; đối với số tiền 60.000.000 đồng theo giấy mượn tiền đề ngày 16/6/2021, bà D là người trực tiếp chuyển tiền cho bà T qua số tài khoản 4501205059895 tại Ngân hàng A vào ngày 16/6/2021 nội dung: “Dung chuyển khoản giùm Phạm Văn Đ đến Thuỷ 60.000.000 đồng món T vay thêm Đ ngày 16/6/2021".

Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, bà D trình bày số tiền 890.000.000 đồng và 60.000.000 đồng là tiền của ông Đ cho bà T vay chứ không phải là tiền của bà, bà D chỉ là người đại diện theo ủy quyền của ông Đ để tham gia tố tụng yêu cầu bà T trả lại tiền vay cho ông Đ. Đồng thời, tại văn bản trình bày ý kiến ngày 27/10/2024, ông Đ trình bày: “...khẳng định: số tiền 890.000.000 đồng (tám trăm chín mươi triệu đồng chẵn) và 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) mà bà Trịnh Thị T đã ghi giấy nợ ngày 26/02/2021 và ngày 16/6/2021 là của tôi cho bà T vay”.

Do đó, ý kiến của bà T không đồng ý trả tiền cho ông Đ mà chỉ trả tiền cho bà D là không có cơ sở được chấp nhận.

[2] Về việc trả gốc và lãi các khoản vay:

[2.1] Đối với khoản tiền vay 890.000.000 đồng ngày 26/02/2021: Tại biên bản làm việc ngày 09/10/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm, bà T thừa nhận bà chưa trả nợ tiền gốc, nhưng bà cho rằng đã trả tiền lãi 02 tháng (tháng 3, 4/2021), mỗi tháng trả với số tiền 44.500.000 đồng, nhưng bà D giảm mỗi tháng 500.000 đồng nên còn lại bà T đã trả cho bà D số tiền lãi của hai tháng là 88.000.000 đồng; tương đương mức lãi suất là 5%/tháng của số tiền gốc 890.000.000 đồng. Bà T đưa tiền mặt cho bà D tại nhà bà D, việc trả lãi không viết giấy tờ gì, bà T cho rằng có tin nhắn giữa bà T và bà D xác nhận về việc trả lãi này nhưng bà T chưa tìm được tin nhắn để cung cấp cho Tòa án và bà T sẽ cung cấp cho Toà án sau. Tuy nhiên, cho đến nay bà T cũng không cung cấp được nội dung tin nhắn hoặc các tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh việc bà T có trả 02 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 88.000.000 đồng đối với khoản vay gốc 890.000.000 đồng, nên không có căn cứ để cho rằng bà T đã trả lãi của khoản vay này cho bà D. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định khoản tiền theo giấy mượn tiền ngày 26/02/2021, bà T vẫn còn nợ ông Đ số tiền gốc là 890.000.000 đồng, tiền lãi chưa trả là có cơ sở.

5

[2.2] Đối với khoản tiền vay 60.000.000 đồng ngày 16/6/2021: Tại biên bản làm việc ngày 09/10/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm, bà T cho rằng đã trả xong cho bà D số tiền này, mỗi ngày bà T trả 2.000.000 đồng cho bà D thông qua chị Lê Thị Thanh T1 (Tên gọi khác là H1) là nhân viên của bà D, cụ thể các lần trả như sau:

Từ ngày 17/6/2021 – 03/7/2021, mỗi ngày bà T trả cho bà D thông qua chị T1 2.000.000 đồng, tổng số tiền là 34.000.000 đồng.

Ngày 04, 05/7/2021 bà T bị sốt nên không trả tiền cho bà D được thì chị T1 có nhắn tin đòi tiền lãi 02 ngày của bà T (Theo tin nhắn ngày 05/7/2021). Đến ngày 06/7/2021 bà T đến trả cho bà D số tiền của 02 ngày 04, 05/7/2021 là 4.000.000 đồng.

Ngày 07/7/2021 bà T đến trả cho bà D số tiền của 02 ngày 06, 07/7/2021 là 4.000.000 đồng.

Ngày 08/7/2021 bà T đến trả cho bà D số tiền của ngày 08/7/2021 là 2.000.000 đồng.

Từ ngày 09/7/2021 đến ngày 11/7/2021, mỗi ngày bà T trả cho bà D số tiền 2.000.000 đồng, tổng số tiền là 6.000.000 đồng.

Từ ngày 12/7/2021 đến ngày 16/7/2021, mỗi ngày bà T trả cho bà D số tiền 2.000.000 đồng, tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Như vậy, đến ngày 16/7/2021 bà T đã trả đủ số tiền 60.000.000 đồng cho bà D thông qua chị T1 (Tên gọi khác là H1), việc trả tiền như trên bằng hình thức đưa tiền mặt, khi bà T trả tiền thì chị T1 sẽ ghi vào giấy.

Bà Thủy cung C chứng cứ chứng minh việc đã trả xong số tiền 60.000.000 đồng cho bà D dựa vào các tin nhắn giữa bà T và chị Lê Thị Thanh T1, cụ thể:

Đối với tin nhắn lúc 20 giờ 54 phút, ngày 05/7/2021, có nội dung: “Dạ cô T ơi, gửi tiền cho con với cô, 02 ngày rồi ạ”, “Cô bị hơi sốt, để sáng mai cô qua gửi”: Bà T cho rằng sau khi chị T1 nhắn tin thì vào ngày 06/7/2021 bà T đã đến đưa cho chị T1 số tiền 4.000.000 đồng của 02 ngày 04, 05/7/2021 để trả tiền cho bà D, sau đó từ ngày 07/7/2021 mỗi ngày bà T đều đến trả cho bà D 2.000.000 đồng thông qua chị T1. Tuy nhiên, chị T1 chỉ thừa nhận nội dung tin nhắn trên là do bà D yêu cầu chị nhắn cho bà T, chị không biết đó là tiền gì. Chị T1 thừa nhận sau khi nhắn cho bà T thì khoảng 01- 02 ngày sau bà T có đến đưa cho chị T1 số tiền khoảng từ 3.000.000 đồng – 4.000.000 đồng để chị T1 đưa lại cho bà D và chị T1 cũng đã đưa lại cho bà D số tiền này.

6

Đối với tin nhắn lúc 13 giờ 09 phút, ngày 12/7/2021, có nội dung: “Bé coi tờ giấy bữa hôm trước cô T đổi thuốc và gửi tiền bữa ngày mấy vậy”, “Dạ sáng ngày 9/7 cô gửi tiền cho ngày 8/7”, “Ok để cô biết tính tiền với họ, do hai bữa nay dịch nó không gửi được cô quên ngày của nó đưa cô”. Đối với tin nhắn này, bà T cho rằng thể hiện ngày 08/7/2021 bà có trả tiền cho bà D thông qua chị T1. Tuy nhiên chị T1 không thừa nhận lời trình bày của bà T và cho rằng số tiền bà T trả vào ngày 8/7 là số tiền 135.000 đồng tiền thuốc bà T mua chứ không liên quan gì đến tiền vay nợ giữa bà T và bà D. Còn nội dung phía sau bà T nhắn như vậy chị T1 không biết.

Như vậy, ngoài việc cung cấp nội dung các tin nhắn giữa bà T và chị T1 nêu trên để chứng minh bà T đã trả cho bà D số tiền 4.000.000 đồng vào các ngày 04, 05/7/2021, bà T không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh bà đã trả tiền cho bà D vào các ngày khác như bà trình bày, cũng như bà đã trả xong số tiền vay 60.000.000 đồng cho bà D thông qua chị T1.

Chị T1 không thừa nhận đã nhận số tiền 60.000.000 đồng do bà T đưa để trả cho bà D. Tuy nhiên, chị T1 thừa nhận trong khoảng thời gian từ khi vào làm việc cho bà D đến nay, chị có nhận tiền của bà T nhiều lần để đưa lại cho bà D, số tiền mỗi lần nhận từ bà T khoảng vài trăm nghìn đến vài triệu đồng, nhưng không nhớ đã nhận bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu tiền, là tiền gì, chỉ nhớ tổng số tiền đã nhận đến ngày 06/7/2021 là 7.500.000 đồng (bao gồm số tiền 4.000.000 đồng bà T trả sau khi chị T1 nhắn tin cho bà T ngày 05/7/2021).

Đối với việc bà T trả tiền cho bà D thông qua chị T1, bà D trình bày: Ngoài hai khoản tiền 890.000.000 đồng và 60.000.000 đồng, ông Đ cho bà T vay có viết giấy nợ như trên, thì bà T còn nhiều lần mượn những khoản tiền khác của bà D để đi chợ hoặc sử dụng vào các mục đích khác của bà T, số tiền mỗi lần mượn không nhiều nên bà D cũng không yêu cầu bà T viết giấy nợ. Khi bà T đến trả các khoản tiền này cho bà D, nếu bà D không có mặt ở nhà thì bà T sẽ đưa tiền cho chị T1, là nhân viên của bà D, để chị T1 đưa lại cho bà D, hoặc nếu bà T chưa trả tiền thì bà D nhờ chị T1 nhắn tin cho bà T để đòi tiền giúp. Đến nay, bà D cũng không nhớ bà T đã mượn và trả cho bà bao nhiêu tiền, thời gian trả vào lúc nào. Tuy nhiên, nếu chị T1 thừa nhận đã nhận của bà T bao nhiêu tiền để đưa lại cho bà D, thì bà D sẽ thừa nhận số tiền này để cấn trừ vào tiền gốc khoản vay 60.000.000 đồng của bà T. Do đó, bà D đồng ý cấn trừ số tiền 7.500.000 đồng chị T1 đã nhận của bà T để đưa lại cho bà D vào số tiền gốc của khoản vay 60.000.000 đồng và xác định bà T chỉ còn nợ ông Đ số tiền gốc của khoản vay ngày 16/6/2021 là 52.500.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bà T có đưa tiền cho chị T1 nhưng đưa vào ngày, tháng, năm nào, bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu tiền, đưa tiền về việc gì, tổng số tiền bao nhiêu thì bà T, bà D, chị T1 không có chứng cứ để xác định được. Tuy nhiên, căn cứ vào sự thừa nhận của chị T1 có nhận số tiền 7.500.000 đồng của bà T để đưa lại cho bà D và bà D đồng ý cấn trừ số tiền này vào số tiền nợ gốc của khoản vay 60.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định: Đối với khoản vay 60.000.000 đồng ngày 16/6/2021, bà T đã trả được 7.500.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại 52.500.000 đồng tiền gốc.

7

[2.3] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị đơn bà Trịnh Thị T mới trình bày về việc bà đã trả khoản tiền 60.000.000 đồng cho bà Vũ Thị Tiêu D thông qua gửi tiền mặt nhiều lần cho chị Lê Thị T2 (tên gọi khác là H1) là nhân viên của bà D, để chị T1 đưa lại cho bà D. Qua quá trình làm việc tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, chị T1 thừa nhận có nhận của bà T tổng cộng là 7.500.000 đồng và đã đưa lại cho bà D, điều này được bà D thừa nhận để giảm trừ vào khoản nợ gốc 60.000.000 đồng cho bà T. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định chị Lê Thị Thanh T1 tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Trường hợp bà T cho rằng chị T1 đã nhận đủ 60.000.000 đồng của bà nhưng không đưa lại cho bà D là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà thì bà T có quyền khởi kiện chị T1 và cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của bà bị xâm phạm để được giải quyết trong một vụ án khác nếu bà T có yêu cầu.

[3] Về tính tiền lãi:

[3.1] Đối với tiền lãi của 02 khoản vay: Bà D cho rằng lãi suất hai bên thỏa thuận là 02%/tháng nhưng từ khi vay bà T không trả khoản tiền lãi nào. Bà T cho rằng khoản vay 890.000.000 đồng ngày 26/02/2021 vay với lãi suất 5%/tháng và đã trả tiền lãi của 02 tháng 03, 04/2021 với tổng số tiền 88.000.000 đồng. Đối với khoản vay 60.000.000 đồng ngày 16/6/2021, trả góp hằng ngày, bà T đã trả hàng ngày cho bà D như thỏa thuận trong giấy mượn tiền và hiện nay đã trả hết tiền gốc và tiền lãi.

Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của mình, bà T không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả các khoản tiền lãi nêu trên cụ thể vào thời gian nào, số tiền đã trả mỗi lần và tổng số tiền đã trả là bao nhiêu, nên trình bày của bà T là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng thời, tại phiên toà bà D cũng không thừa nhận việc bà T có trả lãi cho bà và yêu cầu bà T phải trả lãi theo mức lãi suất là 0,83%/tháng. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy các bên đều có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mức lãi suất được xác định không được vượt quá 10%/năm của khoản tiền vay tại thời điểm trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp nhận xác định mức lãi suất 0,83%/tháng theo yêu cầu của bà D là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả có sự nhầm lẫn, không đúng theo Điều 6 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/11/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên xác định không đúng số tiền lãi buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn tự nguyện xác định lại thời điểm bắt đầu tính lãi và thừa nhận số tiền nợ gốc của khoản vay ngày 16/6/2021 chỉ còn nợ gốc là 52.500.000 đồng tại thời điểm ngày 06/7/2021 (ngày chị T1 thừa nhận lần cuối cùng nhận tiền của bà T). Xét thấy, nguyên đơn tự nguyện xác định lại thời gian chậm trả nợ, số tiền

8

nợ gốc của bị đơn là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa lại phần tính lãi suất như sau:

Đối với khoản vay 890.000.000 đồng ngày 26/02/2021 tính lãi như sau: Từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc là ngày 27/02/2021 đến ngày 14/03/2024 (ngày tuyên án sơ thẩm) là 36 tháng 16 ngày với số tiền lãi là: 269.871.733 đồng [(890.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 36 tháng) + (890.000.000đồng x 0,83%/tháng : 30 ngày x 16 ngày)].

Đối với khoản vay 60.000.000 đồng ngày 16/6/2021 đã trả được 7.500.000 đồng vào ngày 06/7/2021, còn gốc 52.500.000 đồng tính lãi như sau: Tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc còn lại là ngày 07/7/2021 đến ngày 14/03/2024 (ngày tuyên án sơ thẩm) là 32 tháng 07 ngày với số tiền 14.045.675 đồng [(52.500.000 đồng x 0,83%/tháng x 32 tháng) + (52.500.000 đồng x 0,83%/tháng : 30 ngày x 07 ngày)].

Tổng cộng tiền lãi của hai khoản vay là: 269.871.733 đồng + 14.045.675 đồng = 283.917.408 đồng.

[3.3] Từ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định có căn cứ xác định bà T còn nợ nguyên đơn số tiền gốc vay là 942.500.000 đồng và tiền lãi của 02 khoản vay nêu trên là 283.917.408 đồng. Do đó, buộc bà Trịnh Thị T có trách nhiệm trả cho ông Phạm Văn Đ tổng số tiền gốc, lãi là 1.226.417.408 đồng.

[4] Đối với ông Lê Song H là chồng bà T đã được Toà án triệu tập nhưng ông không đến phiên toà. Tại đơn trình bày ngày 01/10/2024, ông Lê Song H có ý kiến không đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì ngay từ lúc phát sinh quan hệ giao dịch giữa hai bên đã không có sự tham gia của ông, ông không biết và thực tế bà T cũng không sử dụng tài sản có được từ giao dịch với ông Đ để phục vụ mục đích công việc gia đình hay nhu cầu chung vợ chồng trong hôn nhân. Mặt khác tại 02 giấy mượn tiền không thể hiện có chữ ký của ông H. Tại phiên toà, bà D trình bày việc giao dịch vay tiền giữa nguyên đơn và bị đơn không liên quan đến ông H. Do đó nguyên đơn chỉ yêu cầu bà Trịnh Thị T trả nợ vay và cấp sơ thẩm chỉ buộc bà T có trách nhiệm trả nợ vay cho ông Đ là có cơ sở.

[5] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: “Tại giấy mượn tiền ngày 26/2/2021 (Bút lục 35) có nội dung: “...Bằng giấy mượn tiền này, tôi tự nguyện thế chấp lại tài sản là: Thế chấp 4 bìa chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Trịnh Thị T... Việc giao kết này là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, và tôi giao kết hợp đồng trong trạng thái tinh thần minh mẫn. Tôi sẽ thực hiện đúng và đầy đủ các thỏa thuận đã ghi trong giấy mượn tiền này. Tôi cũng cam đoan tài sản cầm cố trên là hợp pháp, không bị tranh chấp, không bị kê biên để thi hành án. Nếu sau thời hạn trên mà tôi không đến thanh toán tiền lãi, phí và gốc như đã thỏa thuận, hoặc không gia hạn nợ, hoặc không chuộc lại tài sản thì ông Đ được quyền chuyển nhượng, sang tên tài sản đã thế chấp... Sau khi bà T đã thanh toán đầy đủ cả gốc, lãi và phí theo thỏa thuận trên thì ông Đ giao lại đúng tài sản đã thế chấp và giấy mượn tiền có hiệu lực từ ngày ký”.

9

Tại đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm đều thừa nhận khi vay bà T tự nguyện giao cho ông Đ 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin gồm: (1) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 674000, số vào sổ cấp GCN: CS 18703 cấp cho ông Lê Thành N và bà Huỳnh Thị Ngọc T3 tại thửa đất số 784, tờ bản đồ số 15 xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; (2) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 394818, số vào sổ cấp GCN: CH13580 cấp cho bà Trịnh Thị T tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 24, thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; (3) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 016917, số vào sổ cấp GCN: CS19427 cấp cho bà Trịnh Thị T tại thửa đất số 454, tờ bản đồ số 16, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; (4) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 016921, số vào sổ cấp GCN: CS19253 cấp cho bà Trịnh Thị T tại thửa đất số 640, tờ bản đồ số 16, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm bà T không trình bày, không yêu cầu bên nguyên đơn giao trả lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà đã giao cho nguyên đơn, nhưng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bà T có trình bày và yêu cầu Tòa án xem xét. Tại biên bản làm việc ngày 09/10/2024 và tại phiên tòa phúc thẩm, bà D trình bày hiện nay bà đang giữ 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và cung cấp cho Hội đồng xét xử phúc thẩm để đối chiếu với bản gốc, bà D đồng ý sẽ có trách nhiệm giao trả cho bà T 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên sau khi bà T trả xong các khoản tiền gốc và lãi cho ông Đ. Để giải quyết triệt để vụ án, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà D, sau khi bà T trả xong các khoản tiền gốc và lãi cho ông Đ, bà D có trách nhiệm trả lại 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc) như trên cho bà T.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm:

Án phí dân sự phúc thẩm: Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án bị kháng cáo nên bà Trịnh Thị T không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Trịnh Thị T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng mà bà T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0002538 ngày 26/4/2024.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trịnh Thị T phải chịu: 48.792.522 đồng [36.000.000 đồng + (426.417.408 đồng x 3%)].

Hoàn trả lại cho ông Phạm Văn Đ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 28.443.000 đồng mà ông Phạm Văn Đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0006603 ngày 10/7/2023.

[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là phù hợp với nhận định trên và đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

10

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 148; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 26; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Đ.

    Buộc bà Trịnh Thị T có trách nhiệm trả cho ông Phạm Văn Đ tổng số tiền là: 1.226.417.408 đồng (Một tỷ hai trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm mười bảy nghìn bốn trăm lẻ tám đồng). Trong đó, tiền gốc vay là 942.500.000 đồng, tiền lãi là 283.917.408 đồng.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị Tiêu D là người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn Đ về việc sau khi bà Trịnh Thị T trả xong số tiền nợ trên cho ông Đ, thì bà D (hiện đang giữ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có trách nhiệm giao trả lại cho bà T 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: (1) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 674000, số vào sổ cấp GCN: CS 18703 cấp cho ông Lê Thành N và bà Huỳnh Thị Ngọc T3 tại thửa đất số 784, tờ bản đồ số 15 xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; (2) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 394818, số vào sổ cấp GCN: CH13580 cấp cho bà Trịnh Thị T tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 24, thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; (3) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 016917, số vào sổ cấp GCN: CS19427 cấp cho bà Trịnh Thị T tại thửa đất số 454, tờ bản đồ số 16, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; (4) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 016921, số vào sổ cấp GCN: CS19253 cấp cho bà Trịnh Thị T tại thửa đất số 640, tờ bản đồ số 16, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

  2. Về án phí:

    Án phí dân sự phúc thẩm: Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa bản án bị kháng cáo nên bà Trịnh Thị T không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Trịnh Thị T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng mà bà T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0002538 ngày 26/4/2024.

    Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trịnh Thị T phải chịu 48.792.522 đồng.

    Hoàn trả lại cho ông Phạm Văn Đ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 28.443.000 đồng mà ông Phạm Văn Đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0006603 ngày 10/7/2023.

11

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - TAND huyện Tư Nghĩa;
  • - Chi cục THADS huyện Tư Nghĩa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Túc

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 60/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Thuỷ vay tiền của Phạm Văn Điệp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger