|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 60/2023/HS-ST Ngày: 29/11/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thắng và bà Bùi Thị Hạnh Lê.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thị N, tên gọi khác: không; sinh ngày: 16 tháng 11 năm 1979, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 01/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Trọng Đ (Đã chết); con bà: Trịnh Thị Q, sinh năm 1947; Chồng: Trần Quốc H (đã chết); con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện tại ngoại. Có mặt.
- Người bị hại:
Chị Hồ Thị T; sinh năm: 1993; nơi đăng ký HKTT: Xóm A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 15 phút, ngày 16/9/2023, Lê Thị N đi tập thể dục về đến sân của dãy nhà trọ của chị Phạm Thị N1 tại xóm H, xã H, huyện H (N đang thuê trọ ở đây). N thấy trước cửa phòng trọ của chị Hồ Thị T có dựng một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 37D2-552.04 (xe của chị T). Quan sát thấy cửa phòng trọ của chị T đang đóng, xung quanh nhà trọ chưa có ai dậy, xe không khóa cổ nên N đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Nguyệt đi lại và dắt chiếc xe đi bộ theo đường hướng lên khu vực Trường bắn xã H, huyện H. Khi cách Trường bắn khoảng 100m, N thấy phía bên phải đường có một bãi cây T1 (cách đường chính khoảng 5m). N dắt xe vào và để xe mô tô nằm xuống ở bụi cây rồi phủ các bì rác, lá cây lên xe để cất dấu chiếc xe, mục đích chờ khi nào hỏi được người cần mua xe thì bán lấy tiền tiêu xài. Cất dấu xong N đi bộ về nhà.
Ngày 19/9/2023 chị Hồ Thị T đến Công an huyện H trình bào vụ việc. Đến khoảng 08 giờ 45 phút ngày 20/9/2023, biết không thể che dấu được hành vi phạm tội nên N đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H để đầu thú khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp và khai nhận vị trí cất dấu chiếc xe mô tô trộm cắp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KLĐG-TTHS ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu xanh đen bạc, đã qua sử dụng, mang biển kiểm soát 37D2- 552.04, số khung RLHJA392XNY026623, số máy JA39E2522829 tại thời điểm định giá ngày 16/9/2023 có trị giá 18.500.000₫ (mười tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 63/CT-VKS-HS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lê Thị N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Lê Thị N đã khai nhận hành vi mà bị cáo N thực hiện vào ngày 16/9/2023 giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; xử phạt: Bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 05 giờ 15 phút ngày 16/9/2023, tại khu vực nhà trọ của chị Phạm Thị N1, ở xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, Lê Thị N đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 37D2-552.04 của chị Hồ Thị T.
Do tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được định giá là 18.500.000đ (mười tám triệu năm trăm nghìn đồng). Nên hành vi của bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Đây là vụ án xâm phạm quyền sỡ hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sỡ hữu để chiếm đoạt tài sản có giá trị là 18.500.000đ. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Nên bị cáo sẽ được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Nên chưa cần thiết phải cách ly mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Hồ Thị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[6]. Về vật chứng: Gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha, màu xanh đen bạc, mang biển kiểm soát 37D2- 552.04, số khung RLHJA392XNY026623, số máy JA39E2522829; 01 đăng ký xe số 37008094, biển kiểm soát 37D2- 552.04 mang tên Hồ Sỹ T2.
Xét thấy: Đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Sỹ T2. Tuy nhiên, anh T2 đã tặng cho lại chị T (chị gái T2) nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chị T là đúng quy định của pháp luật.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lê Thị N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thị N 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị N cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Lê Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA Nguyễn Văn Thắng Bùi Thị H1 Lê |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim T3 |
Bản án số 60/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 60/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án trộm cắp tài sản
