Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH THUỶ
TỈNH PHÚ THỌ

--------
Bản án số: 60/2021/HSST
Ngày 30 - 12 - 2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----------------------

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THUỶ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Phạm Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lâm và Ông Vũ Kiêm Toàn

- Thư ký phiên toà:Cao Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy tham gia phiên toà: Ông Phạm Mạnh Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2021/TLST-HSinh ngày 17 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2021/QĐXXST- HSinh ngày 22 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lương Văn S, Sinh ngày: 04/8/1973 tại Thanh Thủy; Nơi cư trú: Khu 3, xã BY, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn Trụ, Sinh năm 1945 và bà Trần Thị Hương, Sinh năm 1947; Vợ: Lỗ Thị Hồng Diện, Sinh năm 1976; Con: Có 02 con, lớn Sinh năm 1997, nhỏ Sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/9/2007 Lương Văn S đã bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội: Đánh bạc. S đã chấp hành xong toàn bộ Bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã BY, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

Bị hại: Chị Lò Thị N, Sinh năm 1992; Địa chỉ: Bản MK, xã CK, Vân Hồ, Sơn La (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Phạm Văn L, Sinh năm 1993; Trú tại: xã TS, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
  • Chị Bùi Thị M, Sinh năm 1991; Trú tại khu 2, xã BY, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt).

Người làm chứng: Anh Kiều Đại N2, Sinh năm 1983 trú tại khu 2, xã BY, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7/2020, anh Kiều Đại N2 cùng vợ là chị Bùi Thị M mở quán hát karaoke “Mai Về” ở khu 13, xã HX, Thanh Thủy, giấy phép kinh doanh mang tên chị Bùi Thị M. Quán hoạt động được khoảng 02 tháng, do kinh tế khó khăn nên anh N2 đã rủ bạn là bị cáo Lương Văn S cùng góp vốn làm chung quán hát “Mai Về” và được S đồng ý, anh N2 và S cùng nhau quản lý quán. Đến cuối tháng 6/2021, anh Phạm Ngọc Tình, Sinh năm 1988 ở thị trấn Yên Châu, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La (là nhân viên quản lý phòng hát của quán Karaoke Mai về) có giới thiệu và xin cho chị Lò Thị N (tên gọi khác là Kiều) vào làm nhân viên phục vụ tại quán “Mai về” và được anh N2 và S đồng ý. Do chị N có nợ tiền của anh Trần Trọng Nguyên ở khu 11 xã Khải Xuân, huyện Thanh Ba (là chủ quán Karaoke Hồng Ngọc – là nơi làm việc trước đây của chị N) nên chị N có hỏi vay Tình số tiền 17.000.000 đồng để trả nợ cho anh Nguyên, do không có tiền nên Tình hỏi và bảo S cho chị N vay số tiền 17.000.000 đồng để chị N trả nợ cho anh Nguyên, sau đó chị N sẽ sang làm việc cho quán của S. Nghe Tình nói vậy, S đồng ý và chuyển vào tài khoản của chị N số tiền 17.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, chị N trả hết nợ cho anh Nguyên rồi tự bắt xe khách đến quán hát “Mai Về” làm nhân viên phục vụ phòng hát của quán “Mai về”. Đến ngày 10/7/2021, chị N xin về quê thăm nhà và hỏi vay thêm của Tình 3.000.000 đồng, thì Tình cho N biết số tiền 17.000.000 đồng lần trước là do S cho N vay. N đồng ý và hỏi vay thêm của S 3.000.000 đồng. S đồng ý cho vay và đưa tiền cho N, tổng cộng N vay của S số tiền 20.000.000 đồng. Vài hôm sau, chị N quay trở lại quán làm việc. Đến ngày 20/7/2021, do tình hình dịch bệnh Covid 19, quán hát phải đóng cửa nên nhân viên phục vụ quán về quê hết. Còn chị N, chưa có tiền để trả nợ cho S nên S yêu cầu chị N viết giấy nợ và yêu cầu chị N ở lại, bao giờ trả được tiền cho S thì mới được về hoặc chờ khi hết dịch quán hát hoạt động trở lại chị N làm cho quán lấy tiền trả nợ cho S. Chị N đồng ý viết giấy nhận vay nợ của S số tiền 20.000.000 đồng (không tính lãi suất). Sau đó S yêu cầu chị N về quán bán hàng ăn của gia đình S ở khu 3, xã BY, huyện Thanh Thủy ở để S còn giám sát quản lý, không cho chị N bỏ về. S có nói với vợ là chị Lỗ Thị Hồng Diện: “do dịch bệnh quán Karaoke dừng hoạt động, chị N không có việc làm nên đưa về đây ở cùng gia đình phụ giúp bán hàng ăn, khi nào quán hoạt động trở lại thì sẽ đưa về quán làm việc”. Nghe S nói vậy nên chị Diện đồng ý cho N ở lại. N ăn ở cùng gia đình S và phụ giúp chị Diện bán hàng ăn. Khoảng 01 tuần sau gia đình chị Diện không đồng ý cho chị N ở nhà chị Diện nữa, nhưng do chị N vẫn chưa có tiền để trả nợ cho S nên S đưa chị N quay lại quán hát “Mai Về”, mua cho chị N một ít đồ ăn khô và nhốt chị N ở trong quán, S thay khóa cửa, rồi khóa cửa lại và cầm chìa khóa đi về nhà. Mục đích S nhốt chị N ở trong quán để chị N không trốn về được, đồng thời giám sát chị N qua camera an ninh của quán. Quá trình bị nhốt, chị N vẫn được sử dụng điện thoại nhưng chỉ được đi lại trong quán, ăn uống bằng đồ ăn nhanh mà S để lại và thỉnh thoảng được bạn trai là anh Phạm Văn L Sinh năm 1993 ở xóm Đá Cóc, xã TS, huyện Thanh Sơn gửi đồ ăn qua khoảng trống giữa cửa với mặt đất. Trong thời gian giam giữ chị N, có hai lần S đến mở cửa quán gặp và hỏi chị N về việc trả nợ cho S, nhưng do chị N chưa có tiền trả nên S tiếp tục nhốt chị N ở trong quán và khóa cửa ngoài rồi đi về nhà.

[...]

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 157; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn S phạm tội “Giam người trái pháp luật”.

Xử phạt bị cáo Lương Văn S 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lương Văn S cho Ủy ban nhân dân xã BY, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại sức khỏe, tinh thần cho chị Lò Thị N số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) chị N đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Về án phí: Bị cáo Lương Văn S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Nơi nhận:
- Bị cáo; Người bị hại;
- VKSND huyện TT,
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- Công an huyện TT;
- UBND xã BY (TB);
- Chi cục THADS huyện TT;
- Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)


Phạm Thị Hồng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 60/2021/HSST ngày 30/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ về giam người trái pháp luật

  • Số bản án: 60/2021/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Giam người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm Lương Văn S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger