|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày 27 tháng 5 năm 2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình; Ông Phan Văn Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Huy Tr, sinh năm 1982 tại xã Tòng Bạt, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Tổ X, CB, phường ĐM, quận HĐ, TP. Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1959 và bà Khương Thị Th, sinh năm 1960; Vợ là: Phạm Thị H, sinh năm 1984. Con có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 10 năm tù về các tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội theo Quyết định của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
+ Người bị hại:
- Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1976 (Có mặt). Địa chỉ: Tổ 4, phường X, quận N, TP. Hà Nội.
- Anh Phùng Thế A, sinh năm 1995 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn V, xã CĐ, huyện BV, TP. Hà Nội.
+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Hồng Q, sinh năm 1974 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Y, xã TA, huyện BV, TP. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2019, do chơi bời và làm ăn thua lỗ, vay nợ nhiều nơi và không có khả năng trả nợ, Nguyễn Huy Tr nảy sinh ý định sẽ tìm người cho thuê xe ô tô tự lái để thuê rồi cầm cố hoặc bán lấy tiền tiêu xài và trả nợ. Thực hiện ý định, Tr sử dụng tài khoản facebook có tên “Huy Tr” của mình để tìm kiếm trên mạng xã hội facebook người cho thuê xe ô tô. Tr tìm được thông tin anh Nguyễn Mạnh H, trú tại: tổ dân phố 4, P. XP, Q., TP. Hà Nội có đăng bài cho thuê xe ô tô tự lái để kinh doanh taxi. Tr chủ động liên lạc theo số điện thoại của anh H ở bài đăng để đề nghị anh H cho thuê xe. Anh H yêu cầu Tr chuẩn bị hồ sơ thuê xe. Đến sáng ngày 01/4/2019, Tr một mình đến quán nước ở khu vực gần sân vận động Mỹ Đình gặp anh H để thỏa thuận và làm hợp đồng thuê xe ô tô. Tại đây, Tr cùng anh H và chị Trương Thị Th là vợ anh H đã thỏa thuận, thống nhất với nhau nội dung: vợ chồng anh H cho Tr thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu bạc, BKS: 30E-530.37 của gia đình anh H (đăng ký xe đứng tên anh H) trong thời hạn 01 năm để kinh doanh dịch vụ taxi với số tiền 10.000.000 đồng/01 tháng và 10 ngày Tr phải đưa xe về nhà anh H để kiểm tra xe và đóng tiền thuê xe. Ngoài ra, Tr phải đặt cọc cho vợ chồng anh H số tiền 5.000.000 đồng và trả trước nửa tháng tiền thuê xe là 5.000.000 đồng. Tr và chị Th đã ký hợp đồng thuê xe với các nội dung trên. Tr đã giao cho vợ chồng anh H số tiền 10.000.000 đồng, anh H đã giao chiếc xe ô tô Vios, BKS: 30E-530.37 cùng 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc (bản gốc) và một bản photo đăng ký xe mang tên Nguyễn Mạnh H của chiếc xe trên cho Tr. Sau khi thuê được chiếc xe trên, Tr tìm người làm giả Chứng nhận đăng ký xe ô tô để mua. Tr tiếp tục sử dụng tài khoản facebook của mình tìm kiếm và tìm được một người có tài khoản facebook tên là “Phan Anh” nhận làm giả Chứng nhận đăng ký xe ô tô. Tr đã liên lạc, thỏa thuận và thuê người này làm giả 02 Chứng nhận đăng ký xe ô tô có nội dung giống như Chứng nhận đăng ký xe ô tô mà Tr thuê của anh H nhưng thay mục chủ sở hữu bằng tên và thông tin địa chỉ của Tr với giá 8.000.000đ. Sau khi làm giả được Chứng nhận đăng ký xe, Tr nhờ người quen là Phùng Văn H tìm hộ người có thể cầm cố hoặc mua chiếc xe ô tô nêu trên. Sau đó, Hảo đã giới thiệu cho Tr biết Phùng Thế A. Tr đã chủ động liên lạc với Thế A đề nghị cầm cố xe ô tô Vios, BKS: 30E-530.37. Ngày 30/4/2019, Tr một mình điều khiển chiếc xe ô tô Vios trên đến cửa hàng của Thế A ở thị trấn TĐ, BV, Hà Nội. Tại đây, Tr được biết Thế A có cầm cố giấy tờ xe ô tô nên Tr đã mang giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả của chiếc xe Vios trên đề nghị Thế A cho Tr với số tiền 100.000.000 đồng với mục đích giữ lại xe để mang về cho anh H kiểm tra làm tin. Thế Anh không biết giấy tờ đăng ký xe ô tô Vios của Tr là giả đã đồng ý cho Tr cầm cố với số tiền là 100.000.000 đồng. Để hợp lý hóa việc giao dịch trên, Thế Anh đã yêu cầu Tr viết 01 giấy biên nhận vay tiền, 01 giấy mượn xe và 01 giấy bán xe có nội dung nếu Tr không “chuộc” đăng ký xe thì phải bán lại chiếc xe ô tô Vios trên cho Thế Anh. Sau khi thỏa thuận, Tr giao cho Thế Anh 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả của chiếc xe ô tô Vios và nhận từ Thế Anh số tiền 100.000.000 đồng. Sau đó, Tr điều khiển chiếc xe ô tô Vios ra về.
Do có tiền từ việc chiếm đoạt thông qua cầm cố Chứng nhận đăng ký xe giả cho Thế Anh nên trong khoảng thời gian tháng 4 và tháng 5/2019, Tr đã thực hiện đúng theo hợp đồng thuê xe với anh H, mang xe về cho anh H kiểm tra và đóng tiền thuê xe cho anh H. Đến khoảng thời gian giữa tháng 5/2019, do tiếp tục cần tiền để tiêu xài và trả nợ nên Tr đã nhờ một người quen tên là Đỗ Văn Quyền tìm giúp người có thể cầm cố hoặc mua chiếc xe ô tô Vios trên cho Tr. Quyền đã giới thiệu cho Tr biết anh Đỗ Hồng Q. Tr đã chủ động liên lạc với anh Q đề nghị anh Q cầm cố chiếc xe ô tô Vios cho Tr. Ngày 21/5/2019, Tr một mình điều khiển chiếc xe ô tô Vios đến nhà anh Q, đưa cho anh Q xem Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả và tự nhận là xe của mình. Anh Q không biết xe ô tô do Tr phạm tội mà có nên đã cho Tr cầm cố đã thỏa thuận nội dung anh Q nhận cầm cố chiếc xe ô tô trên cho Tr với số tiền là 250.000.000 đồng và Tr viết cho anh Q 01 giấy bán xe làm tin. Sau khi thỏa thuận, Tr giao chiếc xe ô tô Vios cùng 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả cho anh Q và nhận từ anh Q số tiền 250.000.000 đồng rồi ra về. Thời gian sau đó, để che dấu hành vi của mình, không bị anh H phát hiện, Tr đã đến gặp anh Q đề nghị anh Q cho Tr mượn lại chiếc xe ô tô Vios để đi lại một thời gian. Tr trả thêm cho anh Q số tiền lãi 15 ngày tiếp theo là 7.500.000 đồng và 20.000.000 đồng tiền gốc để làm tin. Khi mượn được chiếc xe, Tr mang xe về cho anh H kiểm tra và đóng tiền thuê xe đến hết tháng 6/2019 rồi sau đó mang chiếc xe trả lại cho anh Q giữ làm tin. Kể từ thời gian này, do đã tiêu xài và trả nợ hết tiền, không có khả năng đóng tiền lãi, chuộc xe về trả cho anh H nên Tr đã ngắt liên lạc với anh H, anh Q và Thế A rồi bỏ trốn.
Đến ngày 09/8/2019, anh Nguyễn Mạnh Hải đã phát hiện chiếc xe ô tô Vios, BKS: 30E-530.37 của mình đỗ trước cửa nhà anh Đỗ Hồng Q và đã trình báo sự việc đến Cơ quan CSĐT- Công an quận Nam Từ Liêm. Phùng Thế A và Đỗ Hồng Q đã trình báo sự việc đến Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ba Vì.
Quá trình điều tra, anh Đỗ Hồng Q đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ba Vì 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 347004 mang tên Nguyễn Huy Tr. Anh Phùng Thế A đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ba Vì 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 347004 mang tên Nguyễn Huy Tr và 01 giấy biên nhận vay tiền, 01 giấy mượn xe, 01 giấy bán xe mà Tr đã viết cho Thế Anh khi giao dịch cầm cố Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả ngày 30/4/2019.
Tại các Bản Kết luận giám định số 6377 ngày 03/12/2019 và 4111 ngày 31/8/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 347004 mang tên Nguyễn Huy Tr là Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả (bao gồm: mẫu in, hình dấu, chữ ký)”.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 834 ngày 30/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản Quận Nam Từ Liêm kết luận trị giá tài sản của chiếc xe ô tô trên là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng).
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm c khoản 2 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 48; Điều 55; 56 Bộ luật Hình sự. Điều 331, 333 BLTTHS. Điều 584; 585; 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy Tr phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản“ và tội “Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức“.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Tr 9 (Chín) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 02 (Hai) năm tù về tội Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt 10 năm tù tại bản án số 115/2021/HS-ST ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Nguyễn Huy Tr phải chấp hành hình phạt chung là 21 (Hai mươi mốt) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2020.
- Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Huy Tr phải trả cho anh Nguyễn Mạnh Hải số tiền 100.000.000đ; Trả cho anh Phùng Thế A số tiền 100.000.000đ; Trả cho anh Đỗ Hồng Q số tiền 230.000.000đ.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Huy Tr phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 21.200.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - Viện KSND H. Ba Vì; - Chi cục THADS H. Ba Vì; - Công an huyện Ba Vì; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Trọng Đức |
Bản án số 60/2021/HS-ST ngày 27/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội về vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 60/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy Tr lừa đảo chiếm đoạt tài sản
