|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 60 /2021/DS-ST Ngày 02/4/2021 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khổng Lan Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Cao Thị Chính
- 2. Ông Phạm Ngọc Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định: Ông Trần An Vinh - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2020/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2021/QĐST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.8, Q.3, TP. Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, Tổng Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức H, Trưởng phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng thương mại cổ phần S, chi nhánh B. (Theo Giấy ủy quyền số 55/2021/GUQ-CNBĐ ngày 30/3/2021) (Có mặt)
Bị đơn: Ông Phạm Thế Nh, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ 2, KV7, P. Nh, Tp.Q, Bình Định (Vắng mặt)
Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 3 năm 2020, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa ông Trần Đức H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) cho ông Phạm Thế Nh vay số tiền 900.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng LD 1828200135 ngày 11/10/2018, cụ thể như sau: Giấy nhận nợ số 01 ngày 13/10/2018: số tiền nhận nợ 700.000.000 đồng, Giấy nhận nợ số 02 ngày 15/10/2018: số tiền nhận nợ 200.000.000 đồng; Ngày đáo hạn 11/10/2024; Ngày trả góp vốn, lãi: ngày 11 hàng tháng; Phương thức trả nợ: trả góp vốn, lãi hàng tháng; Lãi suất: 12 tháng đầu tiên là 10%/năm, tại thời điểm bắt đầu tháng 13 kể từ ngày ký giấy nhận nợ lãi suất = lãi suất tiền gửi tiết kiệm 13 tháng VNĐ lãnh lãi cuối kỳ của Sacombank + biên độ 3,5%/năm và được Sacombank quyết định điều chỉnh theo định kỳ 3 tháng/lần và phù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước về lãi suất cho vay; Mục đích vay: Mua xe ô tô phục vụ nhu cầu đi lại; Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Nh đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là xe ô tô con nhãn hiệu NISSAN, biển số 77A-107.50, màu đỏ đen loại 07 chỗ ngồi theo Hợp đồng thế chấp số LD 1828200135/HĐTC ngày 11/10/2018.
Từ ngày vay đến ngày 20/01/2020, ông Nh đã trả cho Ngân hàng số tiền 291.415.474 đồng; trong đó tiền gốc 187.515.000 đồng, tiền lãi: 103.900.474 đồng sau đó ông Nh trì hoãn và không trả nợ cho Ngân hàng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông Nh nhưng đến nay ông Nh chưa trả nợ đầy đủ. Đến ngày 05/02/2021 toàn bộ khoản vay của ông Nh đã chuyển sang nợ quá hạn với tổng số tiền là 820.270.637 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Phạm Thế Nh có nghĩa vụ trả số tiền tạm tính đến ngày 02/4/2021 là 820.960.060 đồng (trong đó nợ gốc 712.485.000 đồng và lãi, lãi phạt quá hạn 108.475.060 đồng) và ông Nh có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 03/4/2021 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất đã quy định tại Hợp đồng. Nếu ông Nh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
[1] Về tố tụng: [1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Phạm Thế Nh trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LD 1828200135 nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Q theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc ông Phạm Thế Nh có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 02/4/2021 là 820.960.060 đồng (trong đó: nợ gốc 712.485.000 đồng và lãi, lãi phạt quá hạn 108.475.060 đồng).
2. Trường hợp ông Phạm Thế Nh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi còn nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu NISSAN, biển số 77A-107.50, màu đỏ đen, 07 chỗ ngồi thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Thế Nh theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số LD1828200135/HĐTC ngày 11/10/2018 theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Q; - Chi cục THADS Tp. Q; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khổng Lan Hương |
Bản án số 60/2021/DS-ST ngày 02/04/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 60/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Phạm Thế Nh thanh toán khoản tiền vay chưa trả.
